Mùa Xuân thứ hai bắt đầu bằng một nhập cuộc mới của những nhân vật nổi tiếng nhất trong nhạc tiền chiến. Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Văn Thương, Văn Cao, Văn Chung, Lê Yên, Doãn Mẫn,Tô Vũ, Nguyễn Văn Tý, Phạm Duy v.v. ba lô lên đường đi kháng chiến. Cùng với Đỗ Nhuận, một chiến sĩ cách mạng đầy tài năng âm nhạc và những nhạc sĩ khác như Huy Du, Tô Hải, Lương Ngọc Trác,Trần Ngọc Xương, Nguyễn Đức Toàn, Nguyễn Đình Phúc, Lê Lôi,Văn An, La Thăng, Hoàng Việt, Trần Kiết Tường, Ngô Huỳnh, Đắc Nhẫn, Hoàng Vân v.v. đã hình thành nền ca khúc mới được gọi là nhạc kháng chiến. Loại nhạc này vượt lên trên những giá trị của nhạc tiền chiến cả về nội dung lẫn ngôn ngữ biểu đạt. Sự cách tân của Nhạc Kháng Chiến hướng đến những giá trị dân gian và cổ truyền trên cơ sở nâng cao về văn hóa âm nhạc. Thành tựu nổi bật của sự sáng tạo này có thể kể: Hát mừng bộ đội chiến thắng (Nguyễn Xuân Khoát), Quê tôi giải phóng (Văn Chung), Mùa lúa chín (Hoàng Việt), Cấy chiêm (Tô Vũ), Đóng nhanh lúa tốt (Lê Lôi), Anh Ba Hưng (Trần Kiết Tường),Giải phóng Điện Biên (Đỗ Nhuận), Hò kéo pháo (Hoàng Vân) v.v... và loạt bài được mệnh danh là dân ca mới của Phạm Duy viết trong kháng chiến (1947- 1951). Bên cạnh khuynh hướng này, nhiều nhạc sĩ do nhu cầu muốn thể hiện một cách sâu sắc hơn những chủ đề lớn đã tạo ra thể loại trường ca, một thể loại được manh nha qua tác phẩm Hòn Vọng phu của Lê Thương từ thời tiền chiến, Nắng Ba Đình của Bùi Công Kỳ-Vũ Hoàng Địch và Diệt phát xít của Nguyễn Đình Thi từ thời năm đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Bình Trị Thiên khói lửa (Nguyễn Văn Thương), Du kích sông Thao (Đỗ Nhuận), Trường ca sông Lô (Văn Cao), Bộ đội về làng (Lê Yên), Chiến sĩ sông Lô (Nguyễn Đình Phúc), Em bé Mường La (Trần Ngọc Xương) v.v... là những trường ca được viết trong kháng chiến có không gian âm nhạc rộng lớn và một sự biểu cảm phong phú.
Nhạc kháng chiến cũng tiếp tục thể loại hành khúc có từ thời tiền chiến và những ngày đầu cách mạng nhưng mang âm hưởngViệt Nam hơn và đã thoát ra khỏi ảnh hưởng của hành khúc Pháp (Marche - militaire), đặt nền móng cho sự phát triển rực rỡ của hành khúc cách mạng thời chống Mỹ sau này. Nam bộ kháng chiến (Tạ Thanh Sơn), Đoàn vệ quốc quân (Phan Huỳnh Điểu),Vì nhân dân quên mình (Doãn Quang Khải), Qua miền Tây Bắc (Nguyễn Thành), Tiểu đoàn 307 (Nguyễn Hữu Trí-Nguyễn Bính), Trên đồi Him Lam, Hành quân xa (Đỗ Nhuận), Tiến về Hà Nội (Văn Cao), v.v... đã trở thành những hành khúc Việt chứa đựng ký ức của cả một thời.
Sau 1945, dòng nhạc lãng mạn thời tiền chiến được tiếp tục phát triển trong vùng Pháp chiếm đóng. Một số nhạc sĩ không đi kháng chiến, cùng một vài nhạc sĩ bỏ kháng chiến trở về tiếp tục sáng tác. Cái đuôi này của nhạc tiền chiến kéo dài đến 1954 ở miền Bắc và sau đó chuyển vào miền Nam trong vùng kiểm soát của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Được coi là loại nhạc vàng bởi những cảm xúc yếu đuối, ủy mị, nhưng nó cũng có những thành tựu, nhưng là những thành tựu cuối mùa, đến 30/4/1975 thì nó tàn lụi hẳn. Cái nhẹ nhàng mong manh buồn man mác, cái sang trọng thị thành đã không có lý do để tồn tại. Nhưng bao giờ cũng thế, những gì mất đi một khi đã trở thành hồi ức, nó sẽ sống dai dẳng trong tâm khảm những người cùng thời, ngăn cản họ đến với cái mới.
Mùa xuân thứ ba của bài hát Việt bắt đầu từ khi hòa bình lập lại cho đến khi kết thúc cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Đây là mùa xuân rực rỡ nhất của những sáng tạo âm nhạc trong lĩnh vực ca khúc....
(Còn tiếp)
Dương Thụ