Sau mấy trận mưa đêm ồn ào và ngắt quãng, sáng thức giấc thấy
trời đã trở lạnh. Cái lạnh đến từ những con gió mùa se sắt và hanh khô.
Choàng thêm chiếc áo khoác mỏng trước khi ra khỏi nhà, thoáng ngẩn
người vì mùi quần áo cũ để lâu trong góc tủ.
Tách cà phê nóng nhẩn nha trên ban công một quán cà phê xưa cũ như
con phố nơi nó náu mình, trong khung cảnh lao xao hối hả của các bà các
chị xách làn đi chợ sớm bên dưới. Tách cà phê ấm sực, những sợi khói
mỏng tang mang mùi-hương-không-biết-tả-thế-nào vào sâu hai cánh mũi. Để
lại những dư vị bồi hồi và nao nao một nỗi ngóng chờ thứ không khí bàng
bạc của những ngày Tết miền Bắc đang cập kề ngoài khung cửa.
Tựa mình vào lan can sắt đã hoen gỉ, tôi nhắm mắt và hoài niệm về những cái Tết đã trôi xa.

Sinh ra và lớn lên trong con ngõ nhỏ, nơi trú ngụ một trong những
tiệm rang xay cà phê gia truyền đầu tiên của Hà Nội, từng mảnh ký ức về
mùa Đông xứ Bắc, về Tết cổ truyền trong tôi đều được tẩm ướp mùi hương
thơm nồng của hạt cà phê rang đến độ. Những buổi sớm tinh mơ, sức mạnh
kéo tôi ra khỏi hơi ấm sực nức của chăn gối mùa Đông không phải là lời
dỗ dành của mẹ, mà là mùi hương dịu dàng quen thuộc, lặng lẽ len qua
song cửa sổ khép hờ. Sau bữa sáng vội vàng luôn khiến mẹ phật lòng, tôi
lại vội vàng khoác chiếc áo bông dày sụ, lật đật chạy ra ngoài đường,
trên những viên gạch vỉa hè khấp khểnh, hướng về phía tiệm cà phê.
Ở đó, cha tôi, một người nghệ sỹ “nghèo về vật chất nhưng tâm hồn
luôn giàu sang” (như lời Người thường nói vui với vợ và các con của
mình) đang ngồi dựa lưng vào bức tường loang lổ vôi trắng, chân vắt chéo
và miệng thở ra những làn khói mỏng. Phin cà phê trên bàn của Người đã
gần cạn, nhưng thấy tôi chạy ra, cha lại nở một nụ cười tươi rói, nhờ
bác chủ tiệm và cũng là hàng xóm châm cho thêm ít nước sôi. Kì cạch
khuấy, kì cạch thổi cho cà phê nguội bớt, rồi người trịnh trọng trao
chiếc cốc nặng trịch vào hai lòng bàn tay bé nhỏ đang xòe ra của tôi.
Hăm ba tháng Chạp, bác chủ quán đóng cửa tiệm, dắt díu cả gia đình
nhỏ về quê. Cha tôi, cũng như nhiều vị khách quen khác trước đó đã kịp
dành dụm tiền mua một gói cà phê rang xay sẵn về. Thói quen vì thế mà
không đổi. Sáng nào khi hé mi mắt tỉnh dậy, sau lớp màn vải mỏng, tôi
cũng thấy dáng Người ngồi vắt chéo chân uống cà phê cạnh chiếc bàn sắt
kê cạnh cửa sổ. Ánh sáng ảm đạm của mùa Đông len qua khe cửa như càng
làm tôn thêm sự nhàn nhã trong thú vui của Người. Và tất nhiên, khi tôi
đã “làm tròn nghĩa vụ” với bữa sáng mẹ chuẩn bị, chờ đợi tôi bao giờ
cũng là cốc nước-cà-phê nhàn nhạt cùng đôi mắt âu yếm của cha.
Sái cà phê – thứ nước uống gần như không có vị, nhưng tình thương bao
la của cha mẹ như bện chặt vào mùi cà phê rang xay ngập tràn cả con
phố, cùng mùi cà phê pha phin còn lẩn quất vương lại trên miệng cốc với
tôi ngày đó sao ngon đến lạ kỳ.
Sau này khi tôi lớn lên, khi cha đã qua đời vì một cơn bạo bệnh của
tuổi già, hương vị cốc cà phê “hưởng sái” ngày nào vẫn như một dấu chấm
lửng in đậm trong tâm trí tôi. Trăm lần dạo bước qua tiệm cà phê nọ là
trăm lần tôi dừng chân trong một khoảnh khắc. Là trăm lần tôi thấy
tôi-của-ngày-thơ-bé, cái dáng lũn cũn với hai bàn tay xòe rộng và cặp
mắt háo hức chờ đợi Người trao cho tôi món quà đầu ngày mới.
Là trăm lần, nước mắt tôi chực ứa trên mi.
Minh Đức