(Bại dự thi) - Ngày xưa muốn nhuộm xanh cho cốm người ta làm thế nào? Người ta giã lá mạ, lấy nước xanh ấy nhuộm cốm, vừa lành, tự nhiên lại tăng hương vị cho cốm. Ngày nay thì người ta dùng phẩm màu công nghiệp.
Tôi biết điều đấy sau khi đọc tạp văn “Miếng ngon Hà Nội” của Vũ Bằng. Những món ngon Hà Nội qua con mắt của ông trở thành một thứ nghệ thuật, nghệ thuật ẩm thực, vừa bình dị, thân thương, vừa thanh cao, sâu sắc.
Miếng ngon của Vũ Bằng là những sản phẩm Việt Nam ‘thuần chủng’ thời thế giới còn chưa ‘phẳng’. Nhưng những ý nghĩ đó chưa bao giờ xưa cũ, lạc hậu cả. Những miếng ngon, sản phẩm Việt ấy thảy đều chứa đựng tình yêu, lòng tự hào, sự chân thành và khao khát vươn tới sự hoàn mỹ. Đọc xong những áng văn trác tuyệt và lòng tự hào dân tộc cao độ của ông, tôi giật mình tự hỏi còn bao nhiêu nhà sản xuất nội chúng ta còn lòng yêu nghề, duy mỹ, đam mê sự hoàn hảo như anh phở Tráng, như bà cụ Còng bán bánh cuốn? Những ‘miếng ngon’ như vậy, tôi tin rằng chẳng cần một cuộc vận động người Việt dùng hàng Việt nào hết. Tự thân nó sẽ có một mãnh lực thu hút không gì cưỡng nổi, giống như được ‘ngã vào vào vòng tay người vợ đa tình sau bao ngày xa cách’ (Vũ Bằng)

Để sản xuất được một sản phẩm ra trò, tôi nghĩ ít nhất nhà sản xuất phải trả lời 3 câu hỏi sau:
1. Chúng ta đã yêu sản phẩm của mình chưa?
Sản phẩm là đứa con nhà sản xuất tâm huyết sinh ra. Lẽ thường, đương nhiên chúng ta phải yêu nó rồi, vì nó là máu thịt, là kỳ vọng và tương lai của ta mà. Nhưng tiếc thay, nhiều nhà sản xuất hiện nay thậm chí còn không sử dụng sản phẩm chính mình sản xuất ra. Phở phormone, tôm dư lượng thuốc kháng sinh, rau quả sử dụng thuốc kích thích, đến xe hơi cũng ọp ẹp. Chúng ta đối xử với những đứa con của mình như vậy thì hãy xem lại bản thân trước khi trách người dùng ‘sính ngoại’.
Vừa qua, tôi xem TV thấy Việt Nam chúng ta học tập mô hình ‘mỗi làng nghề một sản phẩm’ của Nhật Bản mà vừa mừng vừa lo. Mô hình thì hay lắm nhưng làm thế nào để đảm bảo tình yêu, trách nhiệm cam kết lâu dài của người dân với đứa con tinh thần, máu mủ của mình lại là vấn đề khác. Nếu gần đây ai có dịp vào làng lụa Hà Đông thì hẳn phải lấy làm tiếc, lụa tứ xứ tràn ngập, rẻ nhưng không tinh. Và nếu không cải thiện thì lịch sử lâu đời của làng lụa này sẽ sớm chấm dứt.
2. Chúng ta đã đam mê sự hoàn hảo chưa?
Hãy nói cho tôi biết sự khác biệt khi cầm chiếc Iphone và chiếc điện thoại mua tại Đông Hưng? Đó là đỉnh cao và vực sâu. Đó là sự tương phản giữa hoàn mỹ và cẩu thả, của sự tận tụy phục vụ và sự lờ đờ vô trách nhiệm. Đương nhiên cũng là sự tương phản giá cả. Và cả sự tương phản giữa thành công của Apple với những hãng điện thoại vô danh, vật vờ khác. Điều kỳ lạ là cả Iphone và những chiếc điện thoại lem nhem kia đều được sản xuất ra bằng bàn tay và kỹ nghệ của công nhân ở các nước thứ 3.
Sự khác biệt là tinh thần đam mê hoàn hảo mà Apple mang tới cho chiếc Iphone. Và nó đã được trả công rất hậu hĩnh.
Trở lại Việt Nam thì năm 1952, theo Vũ Bằng, là đỉnh cao của nghệ thuật phở Hà Nội. Nhưng trong vô số hàng phở ấy chỉ một vài hàng được điểm mặt chỉ tên: phở Phú Xuân, phở Tàu bay, phở Sứt, phở Mũ đỏ… nhưng đỉnh cao phải kể đến anh phở Tráng Hàng Than. Tráng, ngoại hình chán nản, phục vụ theo phong cách rất bơ phớt khách hàng nhưng lúc nào hàng của anh cũng dăm chục người xếp hàng chờ ăn. Có được điều ấy là nhờ anh đam mê hoàn hảo đến nỗi nhất định không chịu mở rộng quán, thuê người làm, anh không tin ai cả, muốn tự mình làm để mang lại sự hoàn mỹ cho khách hàng, và cho cả chính anh. Một sự cực đoan, nhưng không phải không đáng học tập.
3. Chúng ta đã yêu khách hàng chưa?
Thương hiệu xe hơi Lexus, biểu tượng của sự xa hoa và hoàn mỹ ngày nay, rất hài hước là đã trở nên nổi tiếng sau khi tung ra một mẻ xe có 2 lỗi kỹ thuật nhỏ ngay những ngày đầu tiên thương hiệu này ra mắt. Lẽ ra đó là một thảm họa cho thương hiệu non trẻ. Nhưng Lexus đã chuyển bại thành thắng sau một nỗ lực thu hồi mà báo chí sau này gọi bằng cái tên “cuộc thu hồi hoàn hảo”. Với những xe lỗi trong vòng 100 dặm, khách hàng mang tới xưởng và được sửa 2 lỗi nhỏ này, sau đó xe được rửa sạch sẽ và bơm đầy xăng trước khi trao trả cho khách. Với khách hàng xa hơn 100 dặm, hãng sẽ cho chuyên gia đến tận nơi sửa chữa. Có những chuyên gia phải đi từ đầu đến cuối đất nước chỉ để sửa 1 chiếc xe.
Nhưng sự chăm sóc, tận tụy đó đã không uổng. Tiếng tăm Lexus nhanh chóng lan xa và như chúng ta biết, hiện nay nó đã bén rễ trong lòng những khách hàng giàu có, thượng lưu và là cảm hứng để Thomas Friedman viết ra cuốn sách best seller “Chiếc Lexus và cây ô liu” nổi tiếng.
Trở lại với Vũ Bằng, ông có kể một câu chuyện về bà cụ Còng bán bánh cuốn. Bánh bà ngon thì rõ rồi, nhưng đặc biệt ở chỗ bà dày công pha chế thứ nước chấm mà không ai phải cho thêm ớt, chanh hay tiêu gì hết. Mọi người đều ‘phải’ thích thứ nước chấm ấy. Một tham vọng có phần gàn dở của bà cụ, nhưng tình yêu, tinh thần phục vụ của bà cụ với sản phẩm của mình là không phải bàn cãi và đã làm mọi khách hàng đều hài lòng.
Trở lại với với trăn trở chính hiện nay: Tại sao nay người Việt ít dùng hàng Việt? Tôi nghĩ ngành sản xuất nội địa (dù chủ động hay bị động) đi theo một đường hướng sai lầm: đó là đẩy mạnh chiến tranh giá cả. Tôi luôn băn khoăn tại sao phở Hà Nội không có đối thủ, tại sao bia Hà Nội, bia Sài gòn thống trị được thị trường nội địa, Hoàng Anh Gia Lai, Hòa Phát, cà phê Trung Nguyên… vươn lên thành những 'ông lớn'?
Tôi nghĩ ít nhất họ đã trả lời “Có” cho cả 3 câu hỏi trên.
Tôi biết điều đấy sau khi đọc tạp văn “Miếng ngon Hà Nội” của Vũ Bằng. Những món ngon Hà Nội qua con mắt của ông trở thành một thứ nghệ thuật, nghệ thuật ẩm thực, vừa bình dị, thân thương, vừa thanh cao, sâu sắc.
Miếng ngon của Vũ Bằng là những sản phẩm Việt Nam ‘thuần chủng’ thời thế giới còn chưa ‘phẳng’. Nhưng những ý nghĩ đó chưa bao giờ xưa cũ, lạc hậu cả. Những miếng ngon, sản phẩm Việt ấy thảy đều chứa đựng tình yêu, lòng tự hào, sự chân thành và khao khát vươn tới sự hoàn mỹ. Đọc xong những áng văn trác tuyệt và lòng tự hào dân tộc cao độ của ông, tôi giật mình tự hỏi còn bao nhiêu nhà sản xuất nội chúng ta còn lòng yêu nghề, duy mỹ, đam mê sự hoàn hảo như anh phở Tráng, như bà cụ Còng bán bánh cuốn? Những ‘miếng ngon’ như vậy, tôi tin rằng chẳng cần một cuộc vận động người Việt dùng hàng Việt nào hết. Tự thân nó sẽ có một mãnh lực thu hút không gì cưỡng nổi, giống như được ‘ngã vào vào vòng tay người vợ đa tình sau bao ngày xa cách’ (Vũ Bằng)

Để sản xuất được một sản phẩm ra trò, tôi nghĩ ít nhất nhà sản xuất phải trả lời 3 câu hỏi sau:
1. Chúng ta đã yêu sản phẩm của mình chưa?
Sản phẩm là đứa con nhà sản xuất tâm huyết sinh ra. Lẽ thường, đương nhiên chúng ta phải yêu nó rồi, vì nó là máu thịt, là kỳ vọng và tương lai của ta mà. Nhưng tiếc thay, nhiều nhà sản xuất hiện nay thậm chí còn không sử dụng sản phẩm chính mình sản xuất ra. Phở phormone, tôm dư lượng thuốc kháng sinh, rau quả sử dụng thuốc kích thích, đến xe hơi cũng ọp ẹp. Chúng ta đối xử với những đứa con của mình như vậy thì hãy xem lại bản thân trước khi trách người dùng ‘sính ngoại’.
Vừa qua, tôi xem TV thấy Việt Nam chúng ta học tập mô hình ‘mỗi làng nghề một sản phẩm’ của Nhật Bản mà vừa mừng vừa lo. Mô hình thì hay lắm nhưng làm thế nào để đảm bảo tình yêu, trách nhiệm cam kết lâu dài của người dân với đứa con tinh thần, máu mủ của mình lại là vấn đề khác. Nếu gần đây ai có dịp vào làng lụa Hà Đông thì hẳn phải lấy làm tiếc, lụa tứ xứ tràn ngập, rẻ nhưng không tinh. Và nếu không cải thiện thì lịch sử lâu đời của làng lụa này sẽ sớm chấm dứt.
2. Chúng ta đã đam mê sự hoàn hảo chưa?
Hãy nói cho tôi biết sự khác biệt khi cầm chiếc Iphone và chiếc điện thoại mua tại Đông Hưng? Đó là đỉnh cao và vực sâu. Đó là sự tương phản giữa hoàn mỹ và cẩu thả, của sự tận tụy phục vụ và sự lờ đờ vô trách nhiệm. Đương nhiên cũng là sự tương phản giá cả. Và cả sự tương phản giữa thành công của Apple với những hãng điện thoại vô danh, vật vờ khác. Điều kỳ lạ là cả Iphone và những chiếc điện thoại lem nhem kia đều được sản xuất ra bằng bàn tay và kỹ nghệ của công nhân ở các nước thứ 3.
Sự khác biệt là tinh thần đam mê hoàn hảo mà Apple mang tới cho chiếc Iphone. Và nó đã được trả công rất hậu hĩnh.
Trở lại Việt Nam thì năm 1952, theo Vũ Bằng, là đỉnh cao của nghệ thuật phở Hà Nội. Nhưng trong vô số hàng phở ấy chỉ một vài hàng được điểm mặt chỉ tên: phở Phú Xuân, phở Tàu bay, phở Sứt, phở Mũ đỏ… nhưng đỉnh cao phải kể đến anh phở Tráng Hàng Than. Tráng, ngoại hình chán nản, phục vụ theo phong cách rất bơ phớt khách hàng nhưng lúc nào hàng của anh cũng dăm chục người xếp hàng chờ ăn. Có được điều ấy là nhờ anh đam mê hoàn hảo đến nỗi nhất định không chịu mở rộng quán, thuê người làm, anh không tin ai cả, muốn tự mình làm để mang lại sự hoàn mỹ cho khách hàng, và cho cả chính anh. Một sự cực đoan, nhưng không phải không đáng học tập.
3. Chúng ta đã yêu khách hàng chưa?
Thương hiệu xe hơi Lexus, biểu tượng của sự xa hoa và hoàn mỹ ngày nay, rất hài hước là đã trở nên nổi tiếng sau khi tung ra một mẻ xe có 2 lỗi kỹ thuật nhỏ ngay những ngày đầu tiên thương hiệu này ra mắt. Lẽ ra đó là một thảm họa cho thương hiệu non trẻ. Nhưng Lexus đã chuyển bại thành thắng sau một nỗ lực thu hồi mà báo chí sau này gọi bằng cái tên “cuộc thu hồi hoàn hảo”. Với những xe lỗi trong vòng 100 dặm, khách hàng mang tới xưởng và được sửa 2 lỗi nhỏ này, sau đó xe được rửa sạch sẽ và bơm đầy xăng trước khi trao trả cho khách. Với khách hàng xa hơn 100 dặm, hãng sẽ cho chuyên gia đến tận nơi sửa chữa. Có những chuyên gia phải đi từ đầu đến cuối đất nước chỉ để sửa 1 chiếc xe.
Nhưng sự chăm sóc, tận tụy đó đã không uổng. Tiếng tăm Lexus nhanh chóng lan xa và như chúng ta biết, hiện nay nó đã bén rễ trong lòng những khách hàng giàu có, thượng lưu và là cảm hứng để Thomas Friedman viết ra cuốn sách best seller “Chiếc Lexus và cây ô liu” nổi tiếng.
Trở lại với Vũ Bằng, ông có kể một câu chuyện về bà cụ Còng bán bánh cuốn. Bánh bà ngon thì rõ rồi, nhưng đặc biệt ở chỗ bà dày công pha chế thứ nước chấm mà không ai phải cho thêm ớt, chanh hay tiêu gì hết. Mọi người đều ‘phải’ thích thứ nước chấm ấy. Một tham vọng có phần gàn dở của bà cụ, nhưng tình yêu, tinh thần phục vụ của bà cụ với sản phẩm của mình là không phải bàn cãi và đã làm mọi khách hàng đều hài lòng.
Trở lại với với trăn trở chính hiện nay: Tại sao nay người Việt ít dùng hàng Việt? Tôi nghĩ ngành sản xuất nội địa (dù chủ động hay bị động) đi theo một đường hướng sai lầm: đó là đẩy mạnh chiến tranh giá cả. Tôi luôn băn khoăn tại sao phở Hà Nội không có đối thủ, tại sao bia Hà Nội, bia Sài gòn thống trị được thị trường nội địa, Hoàng Anh Gia Lai, Hòa Phát, cà phê Trung Nguyên… vươn lên thành những 'ông lớn'?
Tôi nghĩ ít nhất họ đã trả lời “Có” cho cả 3 câu hỏi trên.
Nguyễn Hoàng Lâm