(TT&VH) - Bỏ lại sau lưng tương lai tươi đẹp ở miền xuôi, những cô giáo trẻ Trường mầm mon Hoa Ban và Trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng (xã Cư San, M’Đrắk, Đắk Lắk) vượt núi cao lên thôn 6B “mớm” từng con số, cái chữ cho “bầy” em nhỏ người Mông.
Đường đến lớp gian nan
Vượt 120 km đường đèo dốc ngoằn nghoèo trong tiết trời mưa bụi se lạnh của mùa khô Tây Nguyên, chúng tôi mới về đến xã Cư San. Đây là một trong những xã nghèo nhất tỉnh Đắk Lắk vừa mới thành lập được 2 năm. Người dân chủ yếu là đồng bào dân tộc ít người (trong đó người Mông chiếm khoảng 50% dân số xã) nhập cư từ các tỉnh phía Bắc. Ông Giàng A Chú, Phó Chủ tịch UB MTTQ xã Cư San cho biết: Ngày trước, đời sống của đồng bào rất khó khăn, kiếm được cái ăn đã khó còn nói chi đến cái chữ, con số là thứ gì đó xa lạ lắm. Từ khi xã Cư San thành lập, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nên người đồng bào ở đây mới biết đến cái chữ và đời sống cũng tốt hơn.
Cô giáo Bình đang đứng lớp
Vì đường sá khó khăn, địa hình đồi núi hiểm trở nên Trường mẫu giáo Hoa Ban và Trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng thành lập tại mỗi thôn một điểm trường để tiện cho các em nhỏ đến lớp. Cư San có 9 thôn, nên có 9 điểm dạy, học của thầy trò vùng cao chỉ với nhà tranh, vách nứa. Đi cùng hai cô giáo trẻ Lâm Thị Bình và cô Trần Thị Hiền, chúng tôi vào 1 điểm trường nằm trên đỉnh đồi thôn 6B. Cô Bình cho biết, tại điểm trường này có 3 lớp học: mẫu giáo, lớp 1 và lớp 2 với khoảng 49 em học sinh chủ yếu là đồng bào Mông.
Quãng đường từ trụ sở xã đến thôn 6B khoảng 8km nhưng đường ngoằn nghoèo và trơn trợt, chỉ cần một chút lơ đễnh là có thể bị té. Có những đoạn đường vách núi cao với những hòn đá tựa nhau lởm chởm muốn lăn xuống bất cứ lúc nào, bên dưới là các hố sâu vài chục mét. Vào mùa mưa, có những đoạn đường không đi xe vào được, có khi phải cuốc bộ 8km để đến trường trên con đường mòn nhỏ xuyên rừng là nơi chứa đựng bao nhiêu nguy hiểm rình rập. Cô Bình tâm sự: “Có ngày trời mưa, tôi đi đến giữa đường bị té bẩn hết áo quần. Tôi đành phải mang áo quần vậy vào lớp vì sợ quay về thay sẽ trễ giờ học làm các em phải đợi”. Bây giờ, bàn chân các cô giáo trẻ đã chai sần sau những ngày đi ủng cao su vượt đường rừng…
Mỗi lớp học chỉ khoảng mười học trò
Nỗi niềm cô giáo trẻ
Từ xa nhìn lại, thôn 6B lô nhô những nhà sàn một màu, nằm xa nhau, đó là nơi cư ngụ của đồng bào người Mông ngày trước di cư vào đây. Thi thoảng lại có những chiếc váy màu sặc sỡ của người phụ nữ Mông xuất hiện. Còn những lớp học là mấy gian nhà vách đất, lợp tranh trống hoác, gió thổi lùa từ đằng trước ra sau. Đập vào mắt chúng tôi hình ảnh những em nhỏ chưa đầy 5 tuổi buổi sáng đi học, chiều về lên nương cấy lúa bẻ ngô, giữ em giúp cha mẹ, những đôi chân trần dính đầy sình lầy, khoác những chiếc áo thun cũ đã rách nham nhở hòa với những chiếc váy hoa văn thổ cẩm đặc trưng của đồng bào vui mừng chạy đến lớp trong cái lạnh buổi sáng. Hình ảnh ngôi nhà lụp sụp tường đan bằng tre nứa, mái lợp tạm bợ bằng tranh len lỏi tiếng đánh vần A, B của cô giáo Bình và cô Hiền cùng âm vang phát ra từ 4 bức tường bằng tre nứa lụp sụp như xua tan đi sự thiếu thốn ảm đạm buồn tẻ ở nơi này. Cô Hiền nói: “Hồi mới vào dạy, nhìn thấy khung cảnh như vậy nên nhiều lúc cũng muốn chuyển nơi khác. Nhưng bây giờ quen rồi, muốn ở lại để giúp các em biết thêm cái chữ”.
Một góc Cư San
Ở đây, cuộc sống người Mông thiếu thốn đủ thứ và nhất là cái chữ, chỉ có những người đàn ông Mông mới nói được tiếng Việt vì họ thường xuống núi mua bán nên có điều kiện giao tiếp với bên ngoài. Còn phụ nữ và trẻ em thì hầu hết không giao tiếp được tiếng Việt với các cô giáo. Vì thế, khi đến nhà vận động các em đi học rất khó khăn. Khi đến nhà họ, các cô phải nhờ những người đàn ông trong nhà “phiên dịch” cho cả nhà nghe. Thế nhưng, vì họ muốn con lên nương, lên rẫy phụ giúp gia đình nên họ rất ngại cho con đi học. Gặp những gia đình như thế, các cô phải đến nhà họ thuyết phục nhiều lần và có khi phải nhờ trưởng thôn nói giúp. Cô Hiền cho biết: “Nhiều khi đi thuyết phục mãi nhưng họ không chịu cho con đến lớp cũng nản lắm, nhưng nghĩ đến việc hàng ngày các em đang cần cái chữ để khôn lớn, trưởng thành nên dù khó mấy cũng phải thuyết phục bố mẹ cho các em đi học”. Thuyết phục các em đi học đã khó, còn dạy học các em lại càng khó hơn. “Những ngày đầu đến lớp, các em không hiểu được mình nói gì nên phải dùng kí hiệu hoặc nhờ em nào trong lớp biết nói tiếng Việt dịch lại cho những em khác cùng nghe”, cô Bình chia sẻ. Từ đó, để dạy các em biết chữ phải mất rất nhiều thời gian và công sức.
Cũng như điểm Trường mẫu giáo Hoa Ban và Trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng ở thôn 6B, ở xã Cư San còn có nhiều điểm trường khác của Trường tiểu học Bùi Thị Xuân và Lê Văn Tám còn nhà tranh, vách nứa nằm trên núi cao. Ở đó, có những cô giáo trẻ như cô Bình và cô Hiền đang ngày đêm âm thầm “mớm” chữ cho các em…
Đường đến lớp gian nan
Vượt 120 km đường đèo dốc ngoằn nghoèo trong tiết trời mưa bụi se lạnh của mùa khô Tây Nguyên, chúng tôi mới về đến xã Cư San. Đây là một trong những xã nghèo nhất tỉnh Đắk Lắk vừa mới thành lập được 2 năm. Người dân chủ yếu là đồng bào dân tộc ít người (trong đó người Mông chiếm khoảng 50% dân số xã) nhập cư từ các tỉnh phía Bắc. Ông Giàng A Chú, Phó Chủ tịch UB MTTQ xã Cư San cho biết: Ngày trước, đời sống của đồng bào rất khó khăn, kiếm được cái ăn đã khó còn nói chi đến cái chữ, con số là thứ gì đó xa lạ lắm. Từ khi xã Cư San thành lập, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nên người đồng bào ở đây mới biết đến cái chữ và đời sống cũng tốt hơn.

Vì đường sá khó khăn, địa hình đồi núi hiểm trở nên Trường mẫu giáo Hoa Ban và Trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng thành lập tại mỗi thôn một điểm trường để tiện cho các em nhỏ đến lớp. Cư San có 9 thôn, nên có 9 điểm dạy, học của thầy trò vùng cao chỉ với nhà tranh, vách nứa. Đi cùng hai cô giáo trẻ Lâm Thị Bình và cô Trần Thị Hiền, chúng tôi vào 1 điểm trường nằm trên đỉnh đồi thôn 6B. Cô Bình cho biết, tại điểm trường này có 3 lớp học: mẫu giáo, lớp 1 và lớp 2 với khoảng 49 em học sinh chủ yếu là đồng bào Mông.
Quãng đường từ trụ sở xã đến thôn 6B khoảng 8km nhưng đường ngoằn nghoèo và trơn trợt, chỉ cần một chút lơ đễnh là có thể bị té. Có những đoạn đường vách núi cao với những hòn đá tựa nhau lởm chởm muốn lăn xuống bất cứ lúc nào, bên dưới là các hố sâu vài chục mét. Vào mùa mưa, có những đoạn đường không đi xe vào được, có khi phải cuốc bộ 8km để đến trường trên con đường mòn nhỏ xuyên rừng là nơi chứa đựng bao nhiêu nguy hiểm rình rập. Cô Bình tâm sự: “Có ngày trời mưa, tôi đi đến giữa đường bị té bẩn hết áo quần. Tôi đành phải mang áo quần vậy vào lớp vì sợ quay về thay sẽ trễ giờ học làm các em phải đợi”. Bây giờ, bàn chân các cô giáo trẻ đã chai sần sau những ngày đi ủng cao su vượt đường rừng…

Nỗi niềm cô giáo trẻ
Từ xa nhìn lại, thôn 6B lô nhô những nhà sàn một màu, nằm xa nhau, đó là nơi cư ngụ của đồng bào người Mông ngày trước di cư vào đây. Thi thoảng lại có những chiếc váy màu sặc sỡ của người phụ nữ Mông xuất hiện. Còn những lớp học là mấy gian nhà vách đất, lợp tranh trống hoác, gió thổi lùa từ đằng trước ra sau. Đập vào mắt chúng tôi hình ảnh những em nhỏ chưa đầy 5 tuổi buổi sáng đi học, chiều về lên nương cấy lúa bẻ ngô, giữ em giúp cha mẹ, những đôi chân trần dính đầy sình lầy, khoác những chiếc áo thun cũ đã rách nham nhở hòa với những chiếc váy hoa văn thổ cẩm đặc trưng của đồng bào vui mừng chạy đến lớp trong cái lạnh buổi sáng. Hình ảnh ngôi nhà lụp sụp tường đan bằng tre nứa, mái lợp tạm bợ bằng tranh len lỏi tiếng đánh vần A, B của cô giáo Bình và cô Hiền cùng âm vang phát ra từ 4 bức tường bằng tre nứa lụp sụp như xua tan đi sự thiếu thốn ảm đạm buồn tẻ ở nơi này. Cô Hiền nói: “Hồi mới vào dạy, nhìn thấy khung cảnh như vậy nên nhiều lúc cũng muốn chuyển nơi khác. Nhưng bây giờ quen rồi, muốn ở lại để giúp các em biết thêm cái chữ”.

Ở đây, cuộc sống người Mông thiếu thốn đủ thứ và nhất là cái chữ, chỉ có những người đàn ông Mông mới nói được tiếng Việt vì họ thường xuống núi mua bán nên có điều kiện giao tiếp với bên ngoài. Còn phụ nữ và trẻ em thì hầu hết không giao tiếp được tiếng Việt với các cô giáo. Vì thế, khi đến nhà vận động các em đi học rất khó khăn. Khi đến nhà họ, các cô phải nhờ những người đàn ông trong nhà “phiên dịch” cho cả nhà nghe. Thế nhưng, vì họ muốn con lên nương, lên rẫy phụ giúp gia đình nên họ rất ngại cho con đi học. Gặp những gia đình như thế, các cô phải đến nhà họ thuyết phục nhiều lần và có khi phải nhờ trưởng thôn nói giúp. Cô Hiền cho biết: “Nhiều khi đi thuyết phục mãi nhưng họ không chịu cho con đến lớp cũng nản lắm, nhưng nghĩ đến việc hàng ngày các em đang cần cái chữ để khôn lớn, trưởng thành nên dù khó mấy cũng phải thuyết phục bố mẹ cho các em đi học”. Thuyết phục các em đi học đã khó, còn dạy học các em lại càng khó hơn. “Những ngày đầu đến lớp, các em không hiểu được mình nói gì nên phải dùng kí hiệu hoặc nhờ em nào trong lớp biết nói tiếng Việt dịch lại cho những em khác cùng nghe”, cô Bình chia sẻ. Từ đó, để dạy các em biết chữ phải mất rất nhiều thời gian và công sức.
Cũng như điểm Trường mẫu giáo Hoa Ban và Trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng ở thôn 6B, ở xã Cư San còn có nhiều điểm trường khác của Trường tiểu học Bùi Thị Xuân và Lê Văn Tám còn nhà tranh, vách nứa nằm trên núi cao. Ở đó, có những cô giáo trẻ như cô Bình và cô Hiền đang ngày đêm âm thầm “mớm” chữ cho các em…
Anh Đức – Trần Hoan