(TT&VH) - Phụ nữ ít hoạt động trong các lĩnh vực khoa học - công nghệ (KH&CN) hơn so với nam giới là một thực tế trên qui mô toàn cầu. Ngay tại Thụy Điển, quốc gia đứng đầu thế giới về bình đẳng nam nữ, số các nhà khoa học tự nhiên và kĩ sư công nghệ là phụ nữ cũng ít hơn hẳn so với các đồng nghiệp nam giới. Có nhiều cách giải thích, kể cả những tuyên bố rất cực đoan và sai lầm.
Chẳng hạn Lawrence Summers, chủ tịch Đại học Harvard, tuyên bố tại một hội nghị về kinh tế tại Boston năm 2005 rằng, phụ nữ ít thành đạt hơn nam giới trong KH&CN là do thiếu khả năng di truyền!
Lawrence Summers đã gây ra một cơn bão tranh luận và phản đối. Nhưng nó cũng đặt ra một vấn đề khoa học hoàn toàn nghiêm túc: có hay không sự khác biệt về sinh học hay di truyền giữa nam và nữ trong các kĩ năng trí tuệ nói chung và trong các họat động KH&CN nói riêng? Thật thú vị là câu trả lời vừa có vừa không.
Tại Mỹ, phụ nữ chiếm 46% tổng số nguồn nhân lực toàn xã hội, nhưng chỉ chiếm 27% nhân lực KH&CN. Tại Thụy Điển cũng thấy bức tranh tương tự, khi 25% vị trí hậu tiến sĩ và 7% ghế giáo sư thuộc về phụ nữ. Chỉ trong lĩnh vực y sinh học mới tìm thấy sự cân bằng, khi phụ nữ Thụy Điển giành tới 44% số bằng tiến sĩ đã trao. Tại các quốc gia kém phát triển hơn, sự chênh lệch có thể còn lớn hơn nữa.

Khác nhau trong hành vi
Với sự phát triển của các khoa học thần kinh và nhận thức, sự khác biệt trong các kĩ năng trí tuệ giữa hai giới bắt đầu được ghi nhận. Nếu ở tuổi mầm non, giữa bé trai và bé gái không có sự khác biệt nào, thì từ bậc tiểu học, sự sai khác bắt đầu xuất hiện. Đến cuối bậc phổ thông và đầu bậc đại học, nữ có khả năng ngôn ngữ tốt hơn, nhất là ngôn ngữ viết. Nữ cũng có ưu thế rõ rệt trong việc ghi nhớ các khuôn mặt và trong các kí ức phân đoạn, tức các kí ức liên quan với một sự kiện cụ thể đã từng trải nghiệm. Cụ thể hơn, phụ nữ nhớ tốt các sự kiện, lời nói, sự vật, khuôn mặt, cùng thời gian, địa điểm và các hoạt động liên quan. Trong khi đó, nam giới trội hơn trong các thao tác trừu tượng (như xoay khối rubic hay tìm đường trong mê lộ) và các nhiệm vụ định lượng liên quan với thị giác.
Những khác biệt đó xuất hiện từ xa xưa trong quá trình tiến hóa do sự thích nghi với hoạt động sống của người nguyên thủy. Trong các nhóm săn bắt - hái lượm, đàn ông thường đi săn còn phụ nữ thì hái lượm. Để săn thú thành công, các kĩ năng giỏi tìm đường, đếm thú chính xác, phóng lao hay ném đá trúng đích… được chọn lọc tự nhiên ưu ái. Kết quả là những người đàn ông giỏi các kĩ năng đó sống sót và truyền hệ gien cho chúng ta ngày nay. Còn với người hái lượm, kĩ năng ngôn ngữ (đủ giỏi để kể lại sự khác biệt giữa hai loại cây trái ăn được và không ăn được) và trí nhớ về vị trí, thời gian, chi tiết của các loại rau củ đóng vai trò thiết yếu.
Cần phải nhấn mạnh rằng, tuy sự khác biệt có thật, nhưng nó không ảnh hưởng cụ thể và trực tiếp tới khả năng tiếp cận các lĩnh vực KH&CN. Chẳng hạn khả năng toán học không chỉ cần các thao tác trừu tượng (ưu thế của nam), mà còn các kí ức hay trí nhớ cụ thể (ưu thế của nữ). Vì thế ta cần tìm nguyên nhân ở chỗ khác.
Khác nhau trong cấu trúc
Khoa học biết từ lâu rằng, các hóc-môn giới tính có thể tham gia xác định kĩ năng trí tuệ của con người. Chẳng hạn trong phôi, mức testosterone cao sẽ nam tính hóa bộ não đang phát triển, giúp hình thành các hành vi và có thể cả các kĩ năng trí tuệ nam tính. Nay ta lại biết quá trình nam hay nữ tính hóa đó diễn ra trong suốt cuộc đời. Khi một phụ nữ dùng hóc-môn để trợ giúp quá trình phẫu thuật chuyển đổi giới tính, một số kĩ năng cũng nam tính hóa theo, như tăng khả năng xử lý thị giác và giảm khả năng ngôn ngữ.
Do hóc-môn, cũng như do di truyền và kinh nghiệm sống, bộ não nam và nữ cũng có một số khác biệt. Não phụ nữ có tỉ lệ chất xám, là vùng nhiều tế bào thần kinh và dòng máu nuôi chảy nhanh nhất, cao hơn. Não nam giới nhiều chất trắng và nhiều sợi thần kinh có myelin hơn (để truyền tín hiệu nhanh). Nam cũng có nhiều chất xám ở bán cầu trái hơn; trong khi phụ nữ không có sự bất đối xứng như thế. Khác biệt trong cấu trúc não phù hợp với khác biệt hành vi đã nói ở trên.
Nhưng cần lưu ý rằng, khác biệt về cấu trúc và chức năng của não không hàm ý rằng, đó là căn nguyên duy nhất dẫn tới sự khác biệt trí tuệ giữa nam và nữ. Bộ não không chỉ phản ánh đặc trưng di truyền hay các kinh nghiệm xa xưa từ tổ tiên, mà còn phản ánh cả những trải nghiệm của chính cá nhân trong thời hiện tại. Nói cách khác, khác biệt trong não có thể chỉ là do sự khác nhau giữa kinh nghiệm và lối sống đặc trưng cho từng giới.
Lựa chọn của chị em
Muốn trở thành nhà khoa học, trước hết phải chọn con đường khoa học. Vì thế tâm lý chọn nghề là yếu tố quyết định. Điều gì khiến một nam hay nữ sinh giỏi toán chọn hay không chọn lĩnh vực công nghệ? Rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới sự lựa chọn mang tính quyết định đó. Nghiên cứu trên 320 học sinh Mỹ có năng khiếu nổi trội (tỉ lệ chọn là một trên mười ngàn em) cho kết quả rất thú vị.
Quan trọng nhất là đặc trưng trí tuệ bản thân. Học sinh có kĩ năng toán học trội hơn ngôn ngữ thường chọn các lĩnh vực KH&CN, dù khả năng ngôn ngữ cũng rất tốt. Còn học sinh trội hơn về ngôn ngữ, dù kĩ năng tính toán không hề kém ai, thì thường chọn các lĩnh vực xã hội và nhân văn.
Ngay giữa nam và nữ sinh giỏi toán cũng có sự lựa chọn rất khác nhau. Số nam sinh chọn toán và khoa học máy tính nhiều gấp 2.5 lần số nữ sinh; còn trong công nghệ, con số là 3 lần. Và 15% số nữ sinh chọn nghề nội trợ; trong khi chưa tới 1% nam sinh có sự lựa chọn như vậy.
Nhưng quan niệm về năng lực trí tuệ bản thân còn đến từ cách mà mọi người xung quanh, nhất là thầy cô và cha mẹ, đánh giá và hành xử với chúng ta. Một nghiên cứu từ năm 1992 cho thấy, đánh giá của thầy cô ở bậc tiểu học về năng khiếu toán học của học sinh ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả học toán sau này. Nói cách khác, tiền niệm sai lầm KH&CN là một đặc trưng nam tính có thể là một định kiến xã hội đối với nữ sinh ngay từ vạch xuất phát.
Những bức tường hữu hình và vô hình
Đáng nói nhất là ngay cả khi đủ tài năng và ý chí, một nhà khoa học nữ giới cũng phải đối mặt với sự phân biệt giới tính vô tình hay hữu ý khi vươn tới đỉnh cao. Nhiều khảo cứu chỉ ra rằng, tiền niệm về một nghề là nam hay nữ tính của xã hội cũng gây thành kiến trong việc thuê mướn hay sa thải nhân viên, tùy thuộc vào giới tính của họ. Ngay trong các xã hội hiện đại, nơi mà sự phân biệt chủng tộc hay giới tính có thể tiêu hủy sự nghiệp của bất cứ ai, ví như Thụy Điển hay Mỹ, thì sự phân biệt giới tính vẫn có thể tồn tại ở mức vô thức.
Và cuối cùng, nhưng có lẽ quan trọng nhất, là nguyên do thuộc về thiên chức. Như bất cứ một lĩnh vực họat động nào, để thành công trong khoa học, không chỉ cần tài năng và ý chí, mà cả thời gian và sức lực để hiện thực hóa chúng trong thực tế. Ở khía cạnh này, phụ nữ luôn chịu thiệt thòi. Phụ nữ sinh nở, nuôi dạy con cái, chăm sóc cha mẹ và gia đình. Ngay cả khi có vai trò xã hội như nam giới, phụ nữ cũng mất nhiều thời gian và tâm sức cho gia đình hơn, do đó ít có thời gian và sức khỏe dành cho công việc hơn. Không hề quá lời khi cho rằng, trong mọi cuộc đua, phụ nữ bao giờ cũng chấp trước nam giới mấy bước chân.
Những nghiên cứu khoa học lâu dài và nghiêm túc cho thấy, quả thật có sự khác biệt giới tính ở một số kĩ năng trí tuệ; nhưng đó không phải là nguyên nhân dẫn tới sự khác biệt giữa nam và nữ trong một lĩnh vực họat động nào đó. Vì nhiều lí do (thiên chức, định kiến hữu thức và vô thức của xã hội…), phụ nữ ít chọn khoa học để hành nghề. Và khi đã chọn, họ cũng không thể dành nhiều thời gian và sức lực cho công việc như nam giới. Nói cách khác, khác biệt giới tính trong KH&CN xuất phát chủ yếu từ các nguyên nhân xã hội, chứ không phải từ di truyền, như tuyên bố đầy tính kì thị của vị Chủ tịch một đại học danh tiếng từ nước Mỹ.Học sinh Châu Á được đánh giá cao nhất về toán và khoa học - Ảnh minh họa từ partnershipforparents
Chẳng hạn Lawrence Summers, chủ tịch Đại học Harvard, tuyên bố tại một hội nghị về kinh tế tại Boston năm 2005 rằng, phụ nữ ít thành đạt hơn nam giới trong KH&CN là do thiếu khả năng di truyền!
Lawrence Summers đã gây ra một cơn bão tranh luận và phản đối. Nhưng nó cũng đặt ra một vấn đề khoa học hoàn toàn nghiêm túc: có hay không sự khác biệt về sinh học hay di truyền giữa nam và nữ trong các kĩ năng trí tuệ nói chung và trong các họat động KH&CN nói riêng? Thật thú vị là câu trả lời vừa có vừa không.
Tại Mỹ, phụ nữ chiếm 46% tổng số nguồn nhân lực toàn xã hội, nhưng chỉ chiếm 27% nhân lực KH&CN. Tại Thụy Điển cũng thấy bức tranh tương tự, khi 25% vị trí hậu tiến sĩ và 7% ghế giáo sư thuộc về phụ nữ. Chỉ trong lĩnh vực y sinh học mới tìm thấy sự cân bằng, khi phụ nữ Thụy Điển giành tới 44% số bằng tiến sĩ đã trao. Tại các quốc gia kém phát triển hơn, sự chênh lệch có thể còn lớn hơn nữa.

Khác nhau trong hành vi
Với sự phát triển của các khoa học thần kinh và nhận thức, sự khác biệt trong các kĩ năng trí tuệ giữa hai giới bắt đầu được ghi nhận. Nếu ở tuổi mầm non, giữa bé trai và bé gái không có sự khác biệt nào, thì từ bậc tiểu học, sự sai khác bắt đầu xuất hiện. Đến cuối bậc phổ thông và đầu bậc đại học, nữ có khả năng ngôn ngữ tốt hơn, nhất là ngôn ngữ viết. Nữ cũng có ưu thế rõ rệt trong việc ghi nhớ các khuôn mặt và trong các kí ức phân đoạn, tức các kí ức liên quan với một sự kiện cụ thể đã từng trải nghiệm. Cụ thể hơn, phụ nữ nhớ tốt các sự kiện, lời nói, sự vật, khuôn mặt, cùng thời gian, địa điểm và các hoạt động liên quan. Trong khi đó, nam giới trội hơn trong các thao tác trừu tượng (như xoay khối rubic hay tìm đường trong mê lộ) và các nhiệm vụ định lượng liên quan với thị giác.
Những khác biệt đó xuất hiện từ xa xưa trong quá trình tiến hóa do sự thích nghi với hoạt động sống của người nguyên thủy. Trong các nhóm săn bắt - hái lượm, đàn ông thường đi săn còn phụ nữ thì hái lượm. Để săn thú thành công, các kĩ năng giỏi tìm đường, đếm thú chính xác, phóng lao hay ném đá trúng đích… được chọn lọc tự nhiên ưu ái. Kết quả là những người đàn ông giỏi các kĩ năng đó sống sót và truyền hệ gien cho chúng ta ngày nay. Còn với người hái lượm, kĩ năng ngôn ngữ (đủ giỏi để kể lại sự khác biệt giữa hai loại cây trái ăn được và không ăn được) và trí nhớ về vị trí, thời gian, chi tiết của các loại rau củ đóng vai trò thiết yếu.
Cần phải nhấn mạnh rằng, tuy sự khác biệt có thật, nhưng nó không ảnh hưởng cụ thể và trực tiếp tới khả năng tiếp cận các lĩnh vực KH&CN. Chẳng hạn khả năng toán học không chỉ cần các thao tác trừu tượng (ưu thế của nam), mà còn các kí ức hay trí nhớ cụ thể (ưu thế của nữ). Vì thế ta cần tìm nguyên nhân ở chỗ khác.
Khác nhau trong cấu trúc
Khoa học biết từ lâu rằng, các hóc-môn giới tính có thể tham gia xác định kĩ năng trí tuệ của con người. Chẳng hạn trong phôi, mức testosterone cao sẽ nam tính hóa bộ não đang phát triển, giúp hình thành các hành vi và có thể cả các kĩ năng trí tuệ nam tính. Nay ta lại biết quá trình nam hay nữ tính hóa đó diễn ra trong suốt cuộc đời. Khi một phụ nữ dùng hóc-môn để trợ giúp quá trình phẫu thuật chuyển đổi giới tính, một số kĩ năng cũng nam tính hóa theo, như tăng khả năng xử lý thị giác và giảm khả năng ngôn ngữ.
Do hóc-môn, cũng như do di truyền và kinh nghiệm sống, bộ não nam và nữ cũng có một số khác biệt. Não phụ nữ có tỉ lệ chất xám, là vùng nhiều tế bào thần kinh và dòng máu nuôi chảy nhanh nhất, cao hơn. Não nam giới nhiều chất trắng và nhiều sợi thần kinh có myelin hơn (để truyền tín hiệu nhanh). Nam cũng có nhiều chất xám ở bán cầu trái hơn; trong khi phụ nữ không có sự bất đối xứng như thế. Khác biệt trong cấu trúc não phù hợp với khác biệt hành vi đã nói ở trên.
Nhưng cần lưu ý rằng, khác biệt về cấu trúc và chức năng của não không hàm ý rằng, đó là căn nguyên duy nhất dẫn tới sự khác biệt trí tuệ giữa nam và nữ. Bộ não không chỉ phản ánh đặc trưng di truyền hay các kinh nghiệm xa xưa từ tổ tiên, mà còn phản ánh cả những trải nghiệm của chính cá nhân trong thời hiện tại. Nói cách khác, khác biệt trong não có thể chỉ là do sự khác nhau giữa kinh nghiệm và lối sống đặc trưng cho từng giới.
Lựa chọn của chị em
Muốn trở thành nhà khoa học, trước hết phải chọn con đường khoa học. Vì thế tâm lý chọn nghề là yếu tố quyết định. Điều gì khiến một nam hay nữ sinh giỏi toán chọn hay không chọn lĩnh vực công nghệ? Rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới sự lựa chọn mang tính quyết định đó. Nghiên cứu trên 320 học sinh Mỹ có năng khiếu nổi trội (tỉ lệ chọn là một trên mười ngàn em) cho kết quả rất thú vị.
Quan trọng nhất là đặc trưng trí tuệ bản thân. Học sinh có kĩ năng toán học trội hơn ngôn ngữ thường chọn các lĩnh vực KH&CN, dù khả năng ngôn ngữ cũng rất tốt. Còn học sinh trội hơn về ngôn ngữ, dù kĩ năng tính toán không hề kém ai, thì thường chọn các lĩnh vực xã hội và nhân văn.
Ngay giữa nam và nữ sinh giỏi toán cũng có sự lựa chọn rất khác nhau. Số nam sinh chọn toán và khoa học máy tính nhiều gấp 2.5 lần số nữ sinh; còn trong công nghệ, con số là 3 lần. Và 15% số nữ sinh chọn nghề nội trợ; trong khi chưa tới 1% nam sinh có sự lựa chọn như vậy.
Nhưng quan niệm về năng lực trí tuệ bản thân còn đến từ cách mà mọi người xung quanh, nhất là thầy cô và cha mẹ, đánh giá và hành xử với chúng ta. Một nghiên cứu từ năm 1992 cho thấy, đánh giá của thầy cô ở bậc tiểu học về năng khiếu toán học của học sinh ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả học toán sau này. Nói cách khác, tiền niệm sai lầm KH&CN là một đặc trưng nam tính có thể là một định kiến xã hội đối với nữ sinh ngay từ vạch xuất phát.
Những bức tường hữu hình và vô hình
Đáng nói nhất là ngay cả khi đủ tài năng và ý chí, một nhà khoa học nữ giới cũng phải đối mặt với sự phân biệt giới tính vô tình hay hữu ý khi vươn tới đỉnh cao. Nhiều khảo cứu chỉ ra rằng, tiền niệm về một nghề là nam hay nữ tính của xã hội cũng gây thành kiến trong việc thuê mướn hay sa thải nhân viên, tùy thuộc vào giới tính của họ. Ngay trong các xã hội hiện đại, nơi mà sự phân biệt chủng tộc hay giới tính có thể tiêu hủy sự nghiệp của bất cứ ai, ví như Thụy Điển hay Mỹ, thì sự phân biệt giới tính vẫn có thể tồn tại ở mức vô thức.
Và cuối cùng, nhưng có lẽ quan trọng nhất, là nguyên do thuộc về thiên chức. Như bất cứ một lĩnh vực họat động nào, để thành công trong khoa học, không chỉ cần tài năng và ý chí, mà cả thời gian và sức lực để hiện thực hóa chúng trong thực tế. Ở khía cạnh này, phụ nữ luôn chịu thiệt thòi. Phụ nữ sinh nở, nuôi dạy con cái, chăm sóc cha mẹ và gia đình. Ngay cả khi có vai trò xã hội như nam giới, phụ nữ cũng mất nhiều thời gian và tâm sức cho gia đình hơn, do đó ít có thời gian và sức khỏe dành cho công việc hơn. Không hề quá lời khi cho rằng, trong mọi cuộc đua, phụ nữ bao giờ cũng chấp trước nam giới mấy bước chân.
Những nghiên cứu khoa học lâu dài và nghiêm túc cho thấy, quả thật có sự khác biệt giới tính ở một số kĩ năng trí tuệ; nhưng đó không phải là nguyên nhân dẫn tới sự khác biệt giữa nam và nữ trong một lĩnh vực họat động nào đó. Vì nhiều lí do (thiên chức, định kiến hữu thức và vô thức của xã hội…), phụ nữ ít chọn khoa học để hành nghề. Và khi đã chọn, họ cũng không thể dành nhiều thời gian và sức lực cho công việc như nam giới. Nói cách khác, khác biệt giới tính trong KH&CN xuất phát chủ yếu từ các nguyên nhân xã hội, chứ không phải từ di truyền, như tuyên bố đầy tính kì thị của vị Chủ tịch một đại học danh tiếng từ nước Mỹ.Học sinh Châu Á được đánh giá cao nhất về toán và khoa học - Ảnh minh họa từ partnershipforparents
TS Đỗ Kiên Cường