(Bài dự thi) - Khi xe dừng lại ở đỉnh đèo Pha- đin, đứng dưới chân tấm bia kỷ niệm về những người thanh niên xung phong đã mở con đường ra chiến dịch cách đây tròn 55 năm, tôi chợt nhớ lại những câu chuyện thời trai trẻ mà cha tôi đã kể.
Và tôi biết rằng con đường đèo dài 32 cây số thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và máu của tiền nhân này, chắc hẳn có những giọt mồ hôi và máu của cha tôi. Bất giác trong tôi dâng lên một niềm tự hào về thế hệ đi trước, thế hệ cha ông tôi, những người đã làm lên chiến thắng "lừng lẫy Điện Biên chấn động địa cầu". Con đường cha tôi đi khi xưa, giờ đây tôi đang bước tiếp...
1- "Đã hết sắc mùa chinh chiến cũ"
Ở Bảo tàng chiến thắng Điện Biên Phủ, tôi lại may mắn được gặp cụ Phùng Văn Nghệ, một quê ở huyện Tam Nông, Phú Thọ và cụ Tạ Văn Tác, quê ở xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Nội. Cụ Nghệ và cụ Tác đều là cựu chiến binh đã từng chiến đấu ở chính chiến trường này. Các cụ tuy đã ngoài 80 tuổi nhưng vẫn còn tráng kiện và minh mẫn lắm. Năm nay nhân kỷ niệm 55 năm đại chiến công "nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng" mà các cụ đã góp một phần công sức và xương máu, con cháu tổ chức cho họ về thăm lại chiến trường xưa, coi như một chuyến đi "dối già". Ấy là họ nói thế, chứ nhìn vóc dáng nhanh nhẹn của hai cụ, tôi chắc rằng hai cụ còn có thể thọ thêm vài chục năm, còn được hưởng cái náo nức của những năm kỷ niệm chắn như thế này ít nhất là năm, sáu lần nữa... Sau một hồi "gạ gẫm" thế nào mà tôi lại được cả hai cụ kể chuyện chiến đấu thuở xưa. Và, qua câu chuyện của các cụ, chiến trường của 55 năm trước lại hiện về sống động....
Cụ Phùng Văn Nghệ bên những hiện vật chiến tranh của bảo tàng Điện Biên Phủ
Bị thất bại liên tiếp trong Đông Xuân 1953 - 1954, thực dân Pháp chủ trương tăng cường xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Từ ngày 20/11/1953, Nava ồ ạt đưa quân chiếm đóng Điện Biên Phủ. Với 49 cứ điểm lớn nhỏ liên kết với nhau, 16.200 quân được huy động và trang bị một khối lượng lớn phương tiện chiến tranh hiện đại, Điện Biên Phủ thực sự là một hình thái phòng ngự mới của thực dân Pháp. Đồng thời, tập đoàn cứ điểm này cũng án ngữ miền Tây Bắc, kiểm soát liên thông với Thượng Lào để làm bẫy nhử, thách thức quân chủ lực Việt Minh tấn công. Thực dân Pháp đã huyênh hoang tuyên bố rằng đây là một "Véc Đong thứ hai ở Viễn đông, một pháo đài bất khả xâm phạm, một cái máy sẵn sàng nghiền nát các sư đoàn thép của Việt Minh". Chính vì thế, Thiếu tướng chỉ huy tập đoàn này là Đờ Catxtơri (Christian de Castries) đã từng gửi thư "mời" đại tướng Tổng tư lệnh của ta "vào ăn tết ở Điện Biên Phủ" một cách đầy hàm ý thách thức.
Nhìn nhận trận Điện Biên Phủ như cơ hội đánh tiêu diệt lớn, tạo chiến thắng vang dội để từ đó chấm dứt kháng chiến trường kỳ, Bộ tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam đã chấp nhận thách thức của quân Pháp để tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Vượt qua các thách thức khó khăn về hậu cần, vượt qua những trở ngại của sự thiếu kinh nghiệm đánh công kiên các cứ điểm mạnh mà nhìn tổng thể thì ở cái thế chiếc mũ lộn ngược mà "địch ở dưới đáy, ta ở trên vành mũ" nhưng trong từng trận đánh nhỏ thì ngược lại, địch luôn ở các cao điểm, còn ta phải băng qua các bãi trống để tấn công. Với quyết định chiến lược chuyển từ "đánh nhanh thắng nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc" sau một đêm suy nghĩ đến đau đầu của vị Đại tướng Tổng tư lệnh, chúng ta đã tập trung được các binh, hỏa lực, giành ưu thế trong từng trận, tạo nên sức mạnh áp đảo, từ đó tiêu diệt từng cứ điểm của địch. Các đợt tấn công, với cách đánh sáng tạo, biết biến vật tĩnh là hệ thống chiến hào thành vũ khí "động" như một sợi dây thòng lọng thắt chặt vào cổ quân thù, chúng ta đã biến niềm tự hào của thực dân thành "địa ngục trần gian" đối với chính chúng. Để rồi, sau 56 ngày đêm "khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt, máu trộn bùn non", chiều 7/5/1954, chúng ta đã buộc tướng Đờ Catxtơri và toàn bộ quân địch phải đầu hàng. Trong toàn chiến dịch, ta đã tiêu diệt và bắt sống 16.200 binh lính (trong đó có 1 thiếu tướng, 16 đại tá, 353 sĩ quan, 1396 hạ sĩ quan) bắn rơi và phá hủy 62 máy bay, thu toàn bộ vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến tranh của địch. Nhân kỷ niệm 10 năm chiến thắng "chấn động địa cầu" này, Bác Hồ viết "Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang dâng cao đến thắng lợi hoàn toàn".
....Cụ Phùng Văn Nghệ vào bộ đội từ tháng 8 năm 1945, trong chiến dịch Điện Biên, cụ nằm trong đại đoàn 312. Ấn tượng lớn nhất đối với cụ là trận chiến ở đồi A1. Cụ Nghệ kể, sau 3 lần tiến công quyết liệt, ta chỉ chiếm được một phần ba đồi, còn lại địch vẫn giữ vững được cứ điểm và có hỏa lực rất mạnh. Địch phản kích quyết liệt, quân ta thương vong khá nhiều. Để chống lại hệ thống hầm ngầm cố thủ không thể xung phong đánh chiếm được trên quả đồi có vị trí quyết định này, từ một kinh nghiệm của một chiến sĩ ở Bắc Ninh, bộ đội công binh Việt Nam đã đào một hầm ngầm phía dưới và cho nổ bộc phá tiêu diệt cứ điểm này. Công việc đào hầm xuyên đồi vô cùng vất vả, có đêm, chúng ta chỉ đào được vài chục cen- ti- mét. Khi đã đào được sâu vào lòng đồi, một khó khăn chết người nữa đặt ra là trong hầm ngầm thiếu dưỡng khí. Thế là, một sáng tạo mang tính rất đặc thù của Việt Nam và riêng rẽ trong chiến dịch Điện Biên này là người nọ nối đuôi người kia lấy quạt nan quạt không khí từ ngoài vào. Đến khi xác định đã đến vị trí hầm ngầm cố thủ của địch, thì cơ số thuốc nổ lại không có nhiều, chưa chắc đã đủ sức công phá được cứ điểm này. Lại một sáng kiến nữa nảy ra, bộ đội đã dùng chính những quả bom chưa nổ của địch vương vãi đẩy chiến trường cưa ra lấy thuốc nổ để tiêu diệt địch. Kết quả, một tấn thuốc nổ đã được điểm hỏa, nhiều kẻ xâm lược đã bị chết tại chỗ, những tên sống sót cũng bị sức ép chảy máu mũi, máu mồm vội vã ra hàng. Trong hầm chỉ huy đồi A1, có dựng một nhóm tượng sáp về lính viễn chinh Pháp ngày ấy. So sánh về vóc dáng đồ sộ của những người lính kia với vóc dáng nhỏ nhắn của cụ Nghệ thì mới thấy tầm vóc vĩ đại của một dân tộc bé nhỏ khi đánh thắng được những kẻ thù to lớn...
Một cán bộ của Sở VH- TT& DL tỉnh Điện Biên hướng dẫn du khách tham quan đồi A1
2- Vang mãi khúc tráng ca Điện Biên
Câu chuyện của hai người lính già đầu bạc, cựu chiến binh Điện Biên tưởng như sẽ còn dài mãi, nếu tôi không bị giục phải đi tiếp những địa điểm lịch sử khác ở thung lũng lòng chảo này. Tới đây, vào đúng ngày 7/5/2009, sẽ có lễ kỷ niệm cấp quốc gia sự kiện 55 năm ngày chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, có diễu binh, diễu hành quần chúng, có nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ. Nhưng ngay trong những ngày này, du khách trong và ngoài nước đã đổ về Điện Biên Phủ khá đông. Có rất nhiều người đã từng chiến đấu tại nơi đây, nhưng đa số là các thế hệ tiếp nối. Cũng như tôi, họ đến để tận mắt chứng kiến những chứng tích lịch sử, để tưởng niệm về một chiến công hào hùng của dân tộc đồng thời cũng là để thêm tự hào về thế hệ cha anh. Hôm ở Mường Phăng, trong hầm làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tôi đã nghe nhiều tiếng trầm trồ "Ông cụ giỏi quá, tài quá" khi cô hướng dẫn viên nói về vị Tổng tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam thuở ấy. Rồi cũng những cô, những chị vừa lúc trước trên đường trèo núi kêu đau chân thì sau khi đến được với khu làm việc của Bộ chỉ huy chiến dịch, đã thốt lên rằng, sự mệt mỏi chẳng thấm tháp gì so với "các cụ" và tự xấu hổ bởi câu than vãn lúc trước... Trưa đó, ở nghĩa trang liệt sĩ cạnh đồi A1, tôi thấy một người con gái trẻ đi lần lượt thắp hương khắp 2432 ngôi mộ vô danh. Sau hỏi ra, mới biết chị tên Trang, sinh năm 1982, cán bộ của Tỉnh ủy Cao Bằng. Trang nói, ngoài rất nhiều những người chưa rõ tên tuổi, tỉnh chị có hai anh hùng được ghi danh ở nghĩa trang này là anh hùng Bế Văn Đàn và anh hùng Hoàng Văn Lô. Và, bằng giọng rất hãnh diện, Trang khoe thêm, ở thành phố Điện Biên hiện nay cũng có những ngôi trường mang tên hai anh hùng đó... Tôi biết, không chỉ có cô gái này, mà rất nhiều, rất nhiều người trẻ ngày nay không hề quên những hy sinh của cha ông, và họ đang sống, lao động và học tập để xứng với sự hy sinh ấy...
Thành phố Điện Biên trời đầu hè nắng chói chang, con phố mang tên ngày chiến thắng 7/5 rộng thêng thang và dài hun hút. Điện Biên hôm nay đang từng bước đổi thay. Theo báo cáo của một đồng chí lãnh đạo tỉnh đọc tại Hội nghị báo cáo viên các tỉnh miền Bắc, năm 2008 dự ước tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn của tỉnh miền núi mới được tách ra từ tỉnh Lai Châu này đạt 1.5879 tỉ 300 triệu đồng, tổng sản lượng lương thực đạt 202.327 tấn, các lĩnh vực văn hóa- xã hội, an ninh- quốc phòng đạt nhiều thành tựu to lớn... Đảng bộ và đồng bào các dân tộc tỉnh Điện Biên hôm nay đang tiếp tục truyền thống của 100 năm thành lập tỉnh Lai Châu (nay là hai tỉnh Lai Châu- Điện Biên), 60 năm ngày thành lập Đảng bộ tỉnh Lai Châu (tiền thân của hai Đảng bộ Lai Châu và Điện Biên), 55 năm ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, phát huy các thế mạnh để sớm thoát ra khỏi diện tỉnh nghèo, đặc biệt khó khăn. Hôm cuối ở Điện Biên, tôi đứng lặng mãi trước tượng đài Chiến thắng dựng trên đồi D1. Tuy trên thân cụm tượng đồng có những vết hoen, nhưng dáng vóc của những người chiến thắng thì vẫn uy nghi hào sảng. Có thể, ai đó hôm nay đã làm điều đáng hổ thẹn với tiền nhân, nhưng cả thế hệ chúng tôi thì vẫn đang bước tiếp con đường của cha anh đã chọn. Và, bài ca về Điện Biên sẽ còn vang mãi, vang mãi trên con đường chúng tôi đi...
Cụm tượng đài kéo pháo vào trận địa đang được khẩn trương hoàn thành
Và tôi biết rằng con đường đèo dài 32 cây số thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và máu của tiền nhân này, chắc hẳn có những giọt mồ hôi và máu của cha tôi. Bất giác trong tôi dâng lên một niềm tự hào về thế hệ đi trước, thế hệ cha ông tôi, những người đã làm lên chiến thắng "lừng lẫy Điện Biên chấn động địa cầu". Con đường cha tôi đi khi xưa, giờ đây tôi đang bước tiếp...
1- "Đã hết sắc mùa chinh chiến cũ"
Ở Bảo tàng chiến thắng Điện Biên Phủ, tôi lại may mắn được gặp cụ Phùng Văn Nghệ, một quê ở huyện Tam Nông, Phú Thọ và cụ Tạ Văn Tác, quê ở xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Nội. Cụ Nghệ và cụ Tác đều là cựu chiến binh đã từng chiến đấu ở chính chiến trường này. Các cụ tuy đã ngoài 80 tuổi nhưng vẫn còn tráng kiện và minh mẫn lắm. Năm nay nhân kỷ niệm 55 năm đại chiến công "nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng" mà các cụ đã góp một phần công sức và xương máu, con cháu tổ chức cho họ về thăm lại chiến trường xưa, coi như một chuyến đi "dối già". Ấy là họ nói thế, chứ nhìn vóc dáng nhanh nhẹn của hai cụ, tôi chắc rằng hai cụ còn có thể thọ thêm vài chục năm, còn được hưởng cái náo nức của những năm kỷ niệm chắn như thế này ít nhất là năm, sáu lần nữa... Sau một hồi "gạ gẫm" thế nào mà tôi lại được cả hai cụ kể chuyện chiến đấu thuở xưa. Và, qua câu chuyện của các cụ, chiến trường của 55 năm trước lại hiện về sống động....

Bị thất bại liên tiếp trong Đông Xuân 1953 - 1954, thực dân Pháp chủ trương tăng cường xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Từ ngày 20/11/1953, Nava ồ ạt đưa quân chiếm đóng Điện Biên Phủ. Với 49 cứ điểm lớn nhỏ liên kết với nhau, 16.200 quân được huy động và trang bị một khối lượng lớn phương tiện chiến tranh hiện đại, Điện Biên Phủ thực sự là một hình thái phòng ngự mới của thực dân Pháp. Đồng thời, tập đoàn cứ điểm này cũng án ngữ miền Tây Bắc, kiểm soát liên thông với Thượng Lào để làm bẫy nhử, thách thức quân chủ lực Việt Minh tấn công. Thực dân Pháp đã huyênh hoang tuyên bố rằng đây là một "Véc Đong thứ hai ở Viễn đông, một pháo đài bất khả xâm phạm, một cái máy sẵn sàng nghiền nát các sư đoàn thép của Việt Minh". Chính vì thế, Thiếu tướng chỉ huy tập đoàn này là Đờ Catxtơri (Christian de Castries) đã từng gửi thư "mời" đại tướng Tổng tư lệnh của ta "vào ăn tết ở Điện Biên Phủ" một cách đầy hàm ý thách thức.
Nhìn nhận trận Điện Biên Phủ như cơ hội đánh tiêu diệt lớn, tạo chiến thắng vang dội để từ đó chấm dứt kháng chiến trường kỳ, Bộ tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam đã chấp nhận thách thức của quân Pháp để tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Vượt qua các thách thức khó khăn về hậu cần, vượt qua những trở ngại của sự thiếu kinh nghiệm đánh công kiên các cứ điểm mạnh mà nhìn tổng thể thì ở cái thế chiếc mũ lộn ngược mà "địch ở dưới đáy, ta ở trên vành mũ" nhưng trong từng trận đánh nhỏ thì ngược lại, địch luôn ở các cao điểm, còn ta phải băng qua các bãi trống để tấn công. Với quyết định chiến lược chuyển từ "đánh nhanh thắng nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc" sau một đêm suy nghĩ đến đau đầu của vị Đại tướng Tổng tư lệnh, chúng ta đã tập trung được các binh, hỏa lực, giành ưu thế trong từng trận, tạo nên sức mạnh áp đảo, từ đó tiêu diệt từng cứ điểm của địch. Các đợt tấn công, với cách đánh sáng tạo, biết biến vật tĩnh là hệ thống chiến hào thành vũ khí "động" như một sợi dây thòng lọng thắt chặt vào cổ quân thù, chúng ta đã biến niềm tự hào của thực dân thành "địa ngục trần gian" đối với chính chúng. Để rồi, sau 56 ngày đêm "khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt, máu trộn bùn non", chiều 7/5/1954, chúng ta đã buộc tướng Đờ Catxtơri và toàn bộ quân địch phải đầu hàng. Trong toàn chiến dịch, ta đã tiêu diệt và bắt sống 16.200 binh lính (trong đó có 1 thiếu tướng, 16 đại tá, 353 sĩ quan, 1396 hạ sĩ quan) bắn rơi và phá hủy 62 máy bay, thu toàn bộ vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến tranh của địch. Nhân kỷ niệm 10 năm chiến thắng "chấn động địa cầu" này, Bác Hồ viết "Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang dâng cao đến thắng lợi hoàn toàn".
....Cụ Phùng Văn Nghệ vào bộ đội từ tháng 8 năm 1945, trong chiến dịch Điện Biên, cụ nằm trong đại đoàn 312. Ấn tượng lớn nhất đối với cụ là trận chiến ở đồi A1. Cụ Nghệ kể, sau 3 lần tiến công quyết liệt, ta chỉ chiếm được một phần ba đồi, còn lại địch vẫn giữ vững được cứ điểm và có hỏa lực rất mạnh. Địch phản kích quyết liệt, quân ta thương vong khá nhiều. Để chống lại hệ thống hầm ngầm cố thủ không thể xung phong đánh chiếm được trên quả đồi có vị trí quyết định này, từ một kinh nghiệm của một chiến sĩ ở Bắc Ninh, bộ đội công binh Việt Nam đã đào một hầm ngầm phía dưới và cho nổ bộc phá tiêu diệt cứ điểm này. Công việc đào hầm xuyên đồi vô cùng vất vả, có đêm, chúng ta chỉ đào được vài chục cen- ti- mét. Khi đã đào được sâu vào lòng đồi, một khó khăn chết người nữa đặt ra là trong hầm ngầm thiếu dưỡng khí. Thế là, một sáng tạo mang tính rất đặc thù của Việt Nam và riêng rẽ trong chiến dịch Điện Biên này là người nọ nối đuôi người kia lấy quạt nan quạt không khí từ ngoài vào. Đến khi xác định đã đến vị trí hầm ngầm cố thủ của địch, thì cơ số thuốc nổ lại không có nhiều, chưa chắc đã đủ sức công phá được cứ điểm này. Lại một sáng kiến nữa nảy ra, bộ đội đã dùng chính những quả bom chưa nổ của địch vương vãi đẩy chiến trường cưa ra lấy thuốc nổ để tiêu diệt địch. Kết quả, một tấn thuốc nổ đã được điểm hỏa, nhiều kẻ xâm lược đã bị chết tại chỗ, những tên sống sót cũng bị sức ép chảy máu mũi, máu mồm vội vã ra hàng. Trong hầm chỉ huy đồi A1, có dựng một nhóm tượng sáp về lính viễn chinh Pháp ngày ấy. So sánh về vóc dáng đồ sộ của những người lính kia với vóc dáng nhỏ nhắn của cụ Nghệ thì mới thấy tầm vóc vĩ đại của một dân tộc bé nhỏ khi đánh thắng được những kẻ thù to lớn...

2- Vang mãi khúc tráng ca Điện Biên
Câu chuyện của hai người lính già đầu bạc, cựu chiến binh Điện Biên tưởng như sẽ còn dài mãi, nếu tôi không bị giục phải đi tiếp những địa điểm lịch sử khác ở thung lũng lòng chảo này. Tới đây, vào đúng ngày 7/5/2009, sẽ có lễ kỷ niệm cấp quốc gia sự kiện 55 năm ngày chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, có diễu binh, diễu hành quần chúng, có nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ. Nhưng ngay trong những ngày này, du khách trong và ngoài nước đã đổ về Điện Biên Phủ khá đông. Có rất nhiều người đã từng chiến đấu tại nơi đây, nhưng đa số là các thế hệ tiếp nối. Cũng như tôi, họ đến để tận mắt chứng kiến những chứng tích lịch sử, để tưởng niệm về một chiến công hào hùng của dân tộc đồng thời cũng là để thêm tự hào về thế hệ cha anh. Hôm ở Mường Phăng, trong hầm làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tôi đã nghe nhiều tiếng trầm trồ "Ông cụ giỏi quá, tài quá" khi cô hướng dẫn viên nói về vị Tổng tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam thuở ấy. Rồi cũng những cô, những chị vừa lúc trước trên đường trèo núi kêu đau chân thì sau khi đến được với khu làm việc của Bộ chỉ huy chiến dịch, đã thốt lên rằng, sự mệt mỏi chẳng thấm tháp gì so với "các cụ" và tự xấu hổ bởi câu than vãn lúc trước... Trưa đó, ở nghĩa trang liệt sĩ cạnh đồi A1, tôi thấy một người con gái trẻ đi lần lượt thắp hương khắp 2432 ngôi mộ vô danh. Sau hỏi ra, mới biết chị tên Trang, sinh năm 1982, cán bộ của Tỉnh ủy Cao Bằng. Trang nói, ngoài rất nhiều những người chưa rõ tên tuổi, tỉnh chị có hai anh hùng được ghi danh ở nghĩa trang này là anh hùng Bế Văn Đàn và anh hùng Hoàng Văn Lô. Và, bằng giọng rất hãnh diện, Trang khoe thêm, ở thành phố Điện Biên hiện nay cũng có những ngôi trường mang tên hai anh hùng đó... Tôi biết, không chỉ có cô gái này, mà rất nhiều, rất nhiều người trẻ ngày nay không hề quên những hy sinh của cha ông, và họ đang sống, lao động và học tập để xứng với sự hy sinh ấy...
Thành phố Điện Biên trời đầu hè nắng chói chang, con phố mang tên ngày chiến thắng 7/5 rộng thêng thang và dài hun hút. Điện Biên hôm nay đang từng bước đổi thay. Theo báo cáo của một đồng chí lãnh đạo tỉnh đọc tại Hội nghị báo cáo viên các tỉnh miền Bắc, năm 2008 dự ước tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn của tỉnh miền núi mới được tách ra từ tỉnh Lai Châu này đạt 1.5879 tỉ 300 triệu đồng, tổng sản lượng lương thực đạt 202.327 tấn, các lĩnh vực văn hóa- xã hội, an ninh- quốc phòng đạt nhiều thành tựu to lớn... Đảng bộ và đồng bào các dân tộc tỉnh Điện Biên hôm nay đang tiếp tục truyền thống của 100 năm thành lập tỉnh Lai Châu (nay là hai tỉnh Lai Châu- Điện Biên), 60 năm ngày thành lập Đảng bộ tỉnh Lai Châu (tiền thân của hai Đảng bộ Lai Châu và Điện Biên), 55 năm ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, phát huy các thế mạnh để sớm thoát ra khỏi diện tỉnh nghèo, đặc biệt khó khăn. Hôm cuối ở Điện Biên, tôi đứng lặng mãi trước tượng đài Chiến thắng dựng trên đồi D1. Tuy trên thân cụm tượng đồng có những vết hoen, nhưng dáng vóc của những người chiến thắng thì vẫn uy nghi hào sảng. Có thể, ai đó hôm nay đã làm điều đáng hổ thẹn với tiền nhân, nhưng cả thế hệ chúng tôi thì vẫn đang bước tiếp con đường của cha anh đã chọn. Và, bài ca về Điện Biên sẽ còn vang mãi, vang mãi trên con đường chúng tôi đi...

Phạm Minh Hoàng