(Bài dự thi) - “Người rừng”, đó là câu nói cửa miệng, là lời giới thiệu bản thân của bà con trong một bản người Thái ở Nghệ An mà chúng tôi có dịp đến với học và một ngày đàu xuân trong ngày “mở cửa rừng” của họ.

Ngày mở cửa rừng
Năm nay bà con nơi đây chọn ngày Mồng Bảy tết để “mở cửa rừng”, nhưng không lễ lạt cúng bái gì. Họ nghĩ năm vừa qua kinh tế dân bản gặp nhiều khó khăn, chắc “các cụ” ấy cũng không trách phạt gì.

Họ gọi các cụ là một nói đến ông bà tổ tiên chứ không phải ma rừng, thần rừng. Người ta chỉ chọn ngày này để bắt đầu cho một năm làm lụng của họ bên những cánh rừng, những vạt nương sẽ cho họ cai ăn cái mặc trong suốt cả một năm trời còn lại. Ngày để người ta chặt cái cây, cày luống cày đầu tiên trong năm. Mặc dù trong những ngày tết vừa qua họ vẫn ở trong rừng trên những chiếc chòi canh nương đơn sơ có khi cách xa bản cả chục cậy số. Chính vì thế họ mới là “người rừng”. Những người này tự nguyện ở lại trong rừng để gìn giữ những gia tài của họ, là đàn gà, đàn lợn, bầy trâu hay vạt nương, vạt rãy… mà cả gia đình đã phải mất nhiều tâm sức trong nhiều năm mới gây dựng được.

Trong ngày mở cửa rừng người ta chỉ làm việc lấy ngày thôi. Sau đó vẫn những cuộc vui vẫn tiếp diễn. Niềm vui bên chén rượu xuân giữa không gian rừng núi, thật yên tĩnh mang một phong vị riêng chẳng thấy có ở nơi nào. Cái làm nên phong vị riêng ấy không chỉ là thứ rượu nếp quê và thịt chuột rừng mà còn là cái không gian tuyệt vời ngát xanh của núi rừng nữa. Trong một căn chòi nhỏ, chúng tôi ngồi quay quần bên nhau cúng hát lên những điệu khắp mộc mạc cầu chúc cho nhau năm mới an lành. Hát khắp có người nói đó là một kiểu ngâm thơ của người Thái. Những trong cuộc vui của chúng tôi hôm ấy, người ta đối đáp nhau bằng những điệu kháp với những lới hay ý đẹp.
“Người rừng” đón khách phương xa
Vợ chồng cụ ông người Thái tên Phương gặp được chúng tôi thì vui lắm. Ông lôi kéo chúng tôi ghé thăm chòi của ông bằng được. Ông bảo đây đã thành nơi ở chính của ông rồi. Ông đã sống ở trang trại suốt mười lăm năm nay. Hiếm khi về làng xuống chợ nên ít khi có khách. Cụ bà cũng vui vẻ ra mặt. Bà rời khỏi gian bếp ra gian ngoài ngồi hòa đồng giữa chúng tôi. Vậy là không còn khoảng cách nào nữa. Bà bảo: “hôm nay phá lệ đấy. Đúng ra đà bà con gái chỉ ngồi gian trong thôi.” Bà hát kể về cuộc sống nương rừng nghe vừa lãng mạn vừa thi vị:

Đã mười lăm năm nay hai ông bà chỉ hát khắp cho nhau nghe và cùng nhớ lại thời son trẻ. Nhà họ có đến bảy đứa con nhưng tất cả đều ở ngoài bản cách chỗ trang trại của ông ngót chục cây số. Khi nâng chén rượu trong lúc đã ngật ngà say, ông phương nói: “Sống ở đây vắng lặng nhưng không thấy thiếu niềm vui.” Họ là những người sinh ra ở chốn hoang sơ này. Cuộc sống của họ từ thuở lọt lòng đã gắn bó với những khoảnh rừng, góc núi vì vậy mà họ không thấy buồn mặc dù thiếu thốn đủ điều.

Nằm cạnh trang trại của ông Phương có trang trại của đôi vợ chồng anh Ón, năm nay 25 tuổi. Anh bảo không muốn xa gia đình đi vào nam làm ăn như đám bạn cùng lứa. Anh quyết định lập gia đình rồi vào rừng làm trang trại. Anh tâm sự: “trang trại của em giờ chưa có chi mô, anh ạ. Hẹn bọn anh tết năm sau vô đây em đãi thịt gà.” Không biết tết năm sau chúng tôi còn dịp trở lại nơi đây hay không, nhưng nhìn ánh mắt thẳng thắn, ánh lên niềm khao khát làm giàu của anh chàng người Thái này tự dưng tôi thấy tin tưởng ở anh, anh sẽ đổi thay được cuộc sống còn nghèo khó của mình.

Buối chiều, trong tiết trờ còn se se lạnh, các anh thợ rừng dẫn chúng tôi đến ngọn thác đẹp của quê họ. Anh chàng tên Việt đã ngoài ba mươi, hăng hái nói một câu khiến chúng tôi không thể bỏ qua ngọn thác, mặc dù trời sắp tôi và đêm ấychúng tôi đã phải lên xe trở lại Hà Nội:
“Lên đây mà chưa biết thác Cành Xộc thì coi như chưa đến đây.”

Chúng tôi chỉ mất không đầy hai mươi phút đi bộ đã đến được chỗ thác nươc. Ngọn thác không cao, nhưng nước trong vắt nhưng đã qua qua thanh lọc. Không ai bảo ai những người đã gắn bó với ngọn thác này từ nhỏ, họ đều chắp tay với một vẻ linh thiêng, sùng kính. Sau này hỏi ra tôi mới biết, đối với những người dân nơi đây, những ngọn thác đều mang trong nó một vẻ huyền bí riêng, cũng với đó là những câu chuyện, những huyền tích cổ xưa chỉ những người già cả sống lâu mới biết được.

Tôi biết rằng, sau này, trong mỗi giấc mơ của tôi sẽ còn hiệ lên những gương mặt ấy, những con người ấy tôi chỉ mới một lần gặp mà đã thấy thân thiết vô cùng. Tôi biết rằng mình sẽ còn nhớ rất lâu cái thác nước quê họ và cả vị thơm nồng của thịt chuột núi nướng sả. Tất nhiên, cả vị rượu nếp quê, thứ rược nhìn không trong suốt như những loại rượu nếp mà tôi từng được biết trước đây nhưng thứ rượu này dễ uống và cũng dễ say.
Ngày mở cửa rừng
Năm nay bà con nơi đây chọn ngày Mồng Bảy tết để “mở cửa rừng”, nhưng không lễ lạt cúng bái gì. Họ nghĩ năm vừa qua kinh tế dân bản gặp nhiều khó khăn, chắc “các cụ” ấy cũng không trách phạt gì.
Họ gọi các cụ là một nói đến ông bà tổ tiên chứ không phải ma rừng, thần rừng. Người ta chỉ chọn ngày này để bắt đầu cho một năm làm lụng của họ bên những cánh rừng, những vạt nương sẽ cho họ cai ăn cái mặc trong suốt cả một năm trời còn lại. Ngày để người ta chặt cái cây, cày luống cày đầu tiên trong năm. Mặc dù trong những ngày tết vừa qua họ vẫn ở trong rừng trên những chiếc chòi canh nương đơn sơ có khi cách xa bản cả chục cậy số. Chính vì thế họ mới là “người rừng”. Những người này tự nguyện ở lại trong rừng để gìn giữ những gia tài của họ, là đàn gà, đàn lợn, bầy trâu hay vạt nương, vạt rãy… mà cả gia đình đã phải mất nhiều tâm sức trong nhiều năm mới gây dựng được.
Trong ngày mở cửa rừng người ta chỉ làm việc lấy ngày thôi. Sau đó vẫn những cuộc vui vẫn tiếp diễn. Niềm vui bên chén rượu xuân giữa không gian rừng núi, thật yên tĩnh mang một phong vị riêng chẳng thấy có ở nơi nào. Cái làm nên phong vị riêng ấy không chỉ là thứ rượu nếp quê và thịt chuột rừng mà còn là cái không gian tuyệt vời ngát xanh của núi rừng nữa. Trong một căn chòi nhỏ, chúng tôi ngồi quay quần bên nhau cúng hát lên những điệu khắp mộc mạc cầu chúc cho nhau năm mới an lành. Hát khắp có người nói đó là một kiểu ngâm thơ của người Thái. Những trong cuộc vui của chúng tôi hôm ấy, người ta đối đáp nhau bằng những điệu kháp với những lới hay ý đẹp.
“Người rừng” đón khách phương xa
Vợ chồng cụ ông người Thái tên Phương gặp được chúng tôi thì vui lắm. Ông lôi kéo chúng tôi ghé thăm chòi của ông bằng được. Ông bảo đây đã thành nơi ở chính của ông rồi. Ông đã sống ở trang trại suốt mười lăm năm nay. Hiếm khi về làng xuống chợ nên ít khi có khách. Cụ bà cũng vui vẻ ra mặt. Bà rời khỏi gian bếp ra gian ngoài ngồi hòa đồng giữa chúng tôi. Vậy là không còn khoảng cách nào nữa. Bà bảo: “hôm nay phá lệ đấy. Đúng ra đà bà con gái chỉ ngồi gian trong thôi.” Bà hát kể về cuộc sống nương rừng nghe vừa lãng mạn vừa thi vị:
Sống rừng ăn thịt chuột
Sống núi ăn thịt sóc rừng
Sống bên khe cạn cũng có ngày trôi trâu.
Sống núi ăn thịt sóc rừng
Sống bên khe cạn cũng có ngày trôi trâu.
Đã mười lăm năm nay hai ông bà chỉ hát khắp cho nhau nghe và cùng nhớ lại thời son trẻ. Nhà họ có đến bảy đứa con nhưng tất cả đều ở ngoài bản cách chỗ trang trại của ông ngót chục cây số. Khi nâng chén rượu trong lúc đã ngật ngà say, ông phương nói: “Sống ở đây vắng lặng nhưng không thấy thiếu niềm vui.” Họ là những người sinh ra ở chốn hoang sơ này. Cuộc sống của họ từ thuở lọt lòng đã gắn bó với những khoảnh rừng, góc núi vì vậy mà họ không thấy buồn mặc dù thiếu thốn đủ điều.
Nằm cạnh trang trại của ông Phương có trang trại của đôi vợ chồng anh Ón, năm nay 25 tuổi. Anh bảo không muốn xa gia đình đi vào nam làm ăn như đám bạn cùng lứa. Anh quyết định lập gia đình rồi vào rừng làm trang trại. Anh tâm sự: “trang trại của em giờ chưa có chi mô, anh ạ. Hẹn bọn anh tết năm sau vô đây em đãi thịt gà.” Không biết tết năm sau chúng tôi còn dịp trở lại nơi đây hay không, nhưng nhìn ánh mắt thẳng thắn, ánh lên niềm khao khát làm giàu của anh chàng người Thái này tự dưng tôi thấy tin tưởng ở anh, anh sẽ đổi thay được cuộc sống còn nghèo khó của mình.
Buối chiều, trong tiết trờ còn se se lạnh, các anh thợ rừng dẫn chúng tôi đến ngọn thác đẹp của quê họ. Anh chàng tên Việt đã ngoài ba mươi, hăng hái nói một câu khiến chúng tôi không thể bỏ qua ngọn thác, mặc dù trời sắp tôi và đêm ấychúng tôi đã phải lên xe trở lại Hà Nội:
“Lên đây mà chưa biết thác Cành Xộc thì coi như chưa đến đây.”
Chúng tôi chỉ mất không đầy hai mươi phút đi bộ đã đến được chỗ thác nươc. Ngọn thác không cao, nhưng nước trong vắt nhưng đã qua qua thanh lọc. Không ai bảo ai những người đã gắn bó với ngọn thác này từ nhỏ, họ đều chắp tay với một vẻ linh thiêng, sùng kính. Sau này hỏi ra tôi mới biết, đối với những người dân nơi đây, những ngọn thác đều mang trong nó một vẻ huyền bí riêng, cũng với đó là những câu chuyện, những huyền tích cổ xưa chỉ những người già cả sống lâu mới biết được.
Tôi biết rằng, sau này, trong mỗi giấc mơ của tôi sẽ còn hiệ lên những gương mặt ấy, những con người ấy tôi chỉ mới một lần gặp mà đã thấy thân thiết vô cùng. Tôi biết rằng mình sẽ còn nhớ rất lâu cái thác nước quê họ và cả vị thơm nồng của thịt chuột núi nướng sả. Tất nhiên, cả vị rượu nếp quê, thứ rược nhìn không trong suốt như những loại rượu nếp mà tôi từng được biết trước đây nhưng thứ rượu này dễ uống và cũng dễ say.
Hữu Vi