(Bài dự thi) - Sinh ra và lớn lên trong một gia đình công chức khá giả ở thành phố, từ nhỏ đến khi rời ghế nhà trường trung học phổ thông, tôi không phải làm bất cứ việc gì ngoài việc ăn học và vui chơi. Thi đại học không đỗ, đầu năm sau tôi có quyết định lên đường nhập ngũ. Được sống trong một tập thể với những người bạn cùng trang lứa, dần dần tôi đã thích ứng và hoà nhập với môi trường quân đội.
Trong giai đoạn đệm, tôi cùng đơn vị đi hành quân dã ngoại đến xã Xín Mần – một xã biên giới đặc biết khó khăn ở huyện vùng cao Xín Mần (tỉnh Hà Giang). Sau hơn hai ngày đi bộ, trèo đèo, luội suối, tôi mới đến nơi. Bốn bề bao quanh chỉ có núi và núi trập trùng, không gian yên ắng, hoang vu. Bước chân vào một nhà dân người đồng bào dân tộc Mông, trước mắt tôi là một ngôi nhà tranh vách lá tuềnh toàng, trống huếch; hai cái giường cũ ọp ẹp, trên đó có bộ chăn màn cũ kỹ, nhàu nát; giữa nhà là một cái bàn gỗ sần sùi, nhền nhệt bụi bẩn, trên đó có mấy cái chén sứt miệng còn sóng sánh màu cặn vàng của chè. Một cụ già gầy nhom, da đồi mồi nhăn nhó, dáng thẫn thờ, mệt mỏi; ba đứa trẻ đen đúa, nhem nhẻm và đứa bé nhất vẫn còn tồng ngồng, chỉ có cái áo ngắn cũn che thân, nhìn tôi vẻ ngơ ngác. Liếc mắt xuống khu vực bếp, mấy cái nồi đặt liểng xiểng, vài hạt ngô vung vãi ngay trên nền nhà, mấy que củi cháy dở tắt ngấm tự lúc nào còn vương vãi quanh cái kiềng bếp. Con mèo nằm co ro giữa đống tro tàn không muốn mở mắt vì cái bụng hình như đang teo tóp lại vì đói meo. Ngoài sân, chỗ này cỏ mọc tếch toác, chỗ chia rác rưởi vứt bỏ lộn xộn, nơi sát chân tường nhà thì rêu bám xám xịt. Đâu đó còn có mùi thum thủm, khó chịu của mấy bãi phân trâu bò chưa được dọn dẹp. Chỉ thoáng qua thôi cũng thấy sự thiếu chăm chút ngôi nhà và cảnh túng thiếu đến nhọc nhằn, leo lút của gia đình này.
Đón bộ đội trong ánh mắt ngỡ ngàng của người già, sự ngơ ngác của con trẻ và tâm trạng bồi hồi, e thẹn của các cô thôn nữ, lòng tôi vừa có chút ít ngại ngùng, vừa có tâm trạng xao động, thương cảm bà con. Gần hai mươi năm ở nơi phố phường phồn hoa, náo nhiệt, cuộc sống vật chất sung túc, đời sống văn hoá - tinh thần sôi động và phong phú, chỉ cần vài bước chân ra khỏi công nhà, tôi có thể được chứng kiến và hưởng thụ đủ mọi thứ dịch vụ ăn uống, vui chơi, mua bán, đi lại…rất tiện lợi. Nay được “mục sở thị” cuộc sống và ăn ở trực tiếp với người dân ở dây, tôi mới nghĩ tầm nhìn và sự hiểu biết của mình còn quá giản đơn và nông cạn. “Về với đồng bào vùng cao biên giới, chúng ta sẽ hiểu hơn cuộc sống của bà con. Đến nơi đèo heo hút gió, sự gian khổ sẽ làm chúng ta vững vàng, rắn rỏi hơi. Khoác trên mình chiếc áo lính mang màu xanh của quê hương, đó là màu áo tình nguyện, hiến dâng của tuổi trẻ. Đất nước ta còn nghèo, đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao còn bao vất vả. Vì thế, gánh vác một phần để giảm bớt cái nghèo, cái khổ không chỉ là trách nhiệm, bổn phận của những người lính, mà đó còn là tình cảm đồng loại thiêng liêng của những người cùng mang một dòng máu con Hồng cháu Lạc…” Không phải là chỉ thị khô khan, cứng nhắc, mà những lời tâm sự, giãi bày từ ruột gan đồng chí chính trị viên đại đội nhẹ nhàng, sâu sắc và thấm thía quá. Lời nói của anh trước lúc lên đường đã xoáy sâu vào miền nhớ như một mệnh lệnh lương tâm nhắn nhủ tôi phải an trí tâm con, vững vàng nghị lực để cùng đồng đội giúp đỡ nhân dân một cách thành tâm, tự nguyện và đến nơi đến chốn. Những ngày tiếp theo, tôi cùng đồng đội và thanh niên địa phương bạt núi, lấp khe, nối con đường mới từ bản này sang bản khác; rồi đào mương máng, hướng dẫn đồng bào cách khai hoang, be bờ, đưa nước vào ruộng cấy lúa. Trực tiếp cầm cái cuối, cái xẻng làm việc thủ công, tuy mồ hôi ướt đầm lưng áo, nhưng được hòa mình vào khí thế lao động hăng say, sôi nổi, nhộn nhịp và tràng ngập tiếng cường trong tình cảm quân dân thắm thiết, nên tôi luôn có cảm giác thoải mái, dễ chịu.
Thời gian trôi qua mau mà tôi không để ý tới. Một con đường mới mở đã nối liền hai bản bao năm xa nhau chỉ vì cái khe sâu ngăn cách. Hơn mười ô ruộng bậc thang được khai hoang mới. Hai cái mương được khơi thông dẫn nước vào ruộngđể bà con cấy lúa. Ngôi nhà tranh tôi ở đã được gia cố, sửa sang gọn gàng hơn. Hai cái giường cũ đã được đóng lại chắc chắn. Bộ chăn màn được giặt giũ và gấp thành nếp vuông vắn ở đầu giường. Cái bàn nhền nhệt bụi bẩn đươcj tẩy bóng tinh tươm hơn. Mấy chiếc ấm chén được cọ rửa sạch sẽ và cấp đặt ngay nắn trên bàn. Ngoài sân, đám cỏ đã được rẫy bỏ, rác rưởi đươc thu gom và các bãi phân trâu được dọn sạch. Ngày tôi đến, bố mẹ chúng đi làm nương từ tối đên sáng. Trước một ngày tôi chuẩn bị trở về đơn vị, vợ chồng họ ở nhà thị gà, nấu xôi, mua rượu và làm bữa cơm chia tay bộ đội. Trong bữa cơm hôm ấy, mấy đứa trẻ ngoan hơn thường ngày, thỉnh thoảng chúng đưa ánh mắt “nhìn trộm” bộ đội như tỏ ý luyến tiếc và nhớ nhung khi ngày mai các chú phải xa gia đình để trở về đơn vị.
Chuyến đi gần một tháng làm công tác dân vanạ “ba cùng” (cùng ở, cùng ăn, cùng làm) với đồng bào Mông chưa thể cho tôi biết hết những vui buồn, gian khó, thiệt thòi của bà con nơid dây, nhưng đã giúp tôi thấm nhuần sâu sắc mối quán hệ quân dân đậm đà, nồng ấm khi mỗi người lính thực sự “tắm mình” trong tình cảm đó. Đã qua những giây phút đầu tiên lo lắng, phân vân và những ngày lao động nhiệt tình, vô tư trong một đợt hành quân dã ngoại, nhưng trong trâ trí tôi vẫn hiển diện những tấm lòng chất phác, hồn hậu và dung dị của bà con nơi biên giới cực Bắc xa xôi của Tổ quốc. Chuyến đi ấy chứa chan trong ký ức và hành trang đời chiến sỹ của tôi như dopngf sông và biển cả không bao giờ khô cạn.
Nguyễn Văn Hải
(Chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam)
Trong giai đoạn đệm, tôi cùng đơn vị đi hành quân dã ngoại đến xã Xín Mần – một xã biên giới đặc biết khó khăn ở huyện vùng cao Xín Mần (tỉnh Hà Giang). Sau hơn hai ngày đi bộ, trèo đèo, luội suối, tôi mới đến nơi. Bốn bề bao quanh chỉ có núi và núi trập trùng, không gian yên ắng, hoang vu. Bước chân vào một nhà dân người đồng bào dân tộc Mông, trước mắt tôi là một ngôi nhà tranh vách lá tuềnh toàng, trống huếch; hai cái giường cũ ọp ẹp, trên đó có bộ chăn màn cũ kỹ, nhàu nát; giữa nhà là một cái bàn gỗ sần sùi, nhền nhệt bụi bẩn, trên đó có mấy cái chén sứt miệng còn sóng sánh màu cặn vàng của chè. Một cụ già gầy nhom, da đồi mồi nhăn nhó, dáng thẫn thờ, mệt mỏi; ba đứa trẻ đen đúa, nhem nhẻm và đứa bé nhất vẫn còn tồng ngồng, chỉ có cái áo ngắn cũn che thân, nhìn tôi vẻ ngơ ngác. Liếc mắt xuống khu vực bếp, mấy cái nồi đặt liểng xiểng, vài hạt ngô vung vãi ngay trên nền nhà, mấy que củi cháy dở tắt ngấm tự lúc nào còn vương vãi quanh cái kiềng bếp. Con mèo nằm co ro giữa đống tro tàn không muốn mở mắt vì cái bụng hình như đang teo tóp lại vì đói meo. Ngoài sân, chỗ này cỏ mọc tếch toác, chỗ chia rác rưởi vứt bỏ lộn xộn, nơi sát chân tường nhà thì rêu bám xám xịt. Đâu đó còn có mùi thum thủm, khó chịu của mấy bãi phân trâu bò chưa được dọn dẹp. Chỉ thoáng qua thôi cũng thấy sự thiếu chăm chút ngôi nhà và cảnh túng thiếu đến nhọc nhằn, leo lút của gia đình này.
Đón bộ đội trong ánh mắt ngỡ ngàng của người già, sự ngơ ngác của con trẻ và tâm trạng bồi hồi, e thẹn của các cô thôn nữ, lòng tôi vừa có chút ít ngại ngùng, vừa có tâm trạng xao động, thương cảm bà con. Gần hai mươi năm ở nơi phố phường phồn hoa, náo nhiệt, cuộc sống vật chất sung túc, đời sống văn hoá - tinh thần sôi động và phong phú, chỉ cần vài bước chân ra khỏi công nhà, tôi có thể được chứng kiến và hưởng thụ đủ mọi thứ dịch vụ ăn uống, vui chơi, mua bán, đi lại…rất tiện lợi. Nay được “mục sở thị” cuộc sống và ăn ở trực tiếp với người dân ở dây, tôi mới nghĩ tầm nhìn và sự hiểu biết của mình còn quá giản đơn và nông cạn. “Về với đồng bào vùng cao biên giới, chúng ta sẽ hiểu hơn cuộc sống của bà con. Đến nơi đèo heo hút gió, sự gian khổ sẽ làm chúng ta vững vàng, rắn rỏi hơi. Khoác trên mình chiếc áo lính mang màu xanh của quê hương, đó là màu áo tình nguyện, hiến dâng của tuổi trẻ. Đất nước ta còn nghèo, đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao còn bao vất vả. Vì thế, gánh vác một phần để giảm bớt cái nghèo, cái khổ không chỉ là trách nhiệm, bổn phận của những người lính, mà đó còn là tình cảm đồng loại thiêng liêng của những người cùng mang một dòng máu con Hồng cháu Lạc…” Không phải là chỉ thị khô khan, cứng nhắc, mà những lời tâm sự, giãi bày từ ruột gan đồng chí chính trị viên đại đội nhẹ nhàng, sâu sắc và thấm thía quá. Lời nói của anh trước lúc lên đường đã xoáy sâu vào miền nhớ như một mệnh lệnh lương tâm nhắn nhủ tôi phải an trí tâm con, vững vàng nghị lực để cùng đồng đội giúp đỡ nhân dân một cách thành tâm, tự nguyện và đến nơi đến chốn. Những ngày tiếp theo, tôi cùng đồng đội và thanh niên địa phương bạt núi, lấp khe, nối con đường mới từ bản này sang bản khác; rồi đào mương máng, hướng dẫn đồng bào cách khai hoang, be bờ, đưa nước vào ruộng cấy lúa. Trực tiếp cầm cái cuối, cái xẻng làm việc thủ công, tuy mồ hôi ướt đầm lưng áo, nhưng được hòa mình vào khí thế lao động hăng say, sôi nổi, nhộn nhịp và tràng ngập tiếng cường trong tình cảm quân dân thắm thiết, nên tôi luôn có cảm giác thoải mái, dễ chịu.
Thời gian trôi qua mau mà tôi không để ý tới. Một con đường mới mở đã nối liền hai bản bao năm xa nhau chỉ vì cái khe sâu ngăn cách. Hơn mười ô ruộng bậc thang được khai hoang mới. Hai cái mương được khơi thông dẫn nước vào ruộngđể bà con cấy lúa. Ngôi nhà tranh tôi ở đã được gia cố, sửa sang gọn gàng hơn. Hai cái giường cũ đã được đóng lại chắc chắn. Bộ chăn màn được giặt giũ và gấp thành nếp vuông vắn ở đầu giường. Cái bàn nhền nhệt bụi bẩn đươcj tẩy bóng tinh tươm hơn. Mấy chiếc ấm chén được cọ rửa sạch sẽ và cấp đặt ngay nắn trên bàn. Ngoài sân, đám cỏ đã được rẫy bỏ, rác rưởi đươc thu gom và các bãi phân trâu được dọn sạch. Ngày tôi đến, bố mẹ chúng đi làm nương từ tối đên sáng. Trước một ngày tôi chuẩn bị trở về đơn vị, vợ chồng họ ở nhà thị gà, nấu xôi, mua rượu và làm bữa cơm chia tay bộ đội. Trong bữa cơm hôm ấy, mấy đứa trẻ ngoan hơn thường ngày, thỉnh thoảng chúng đưa ánh mắt “nhìn trộm” bộ đội như tỏ ý luyến tiếc và nhớ nhung khi ngày mai các chú phải xa gia đình để trở về đơn vị.
Chuyến đi gần một tháng làm công tác dân vanạ “ba cùng” (cùng ở, cùng ăn, cùng làm) với đồng bào Mông chưa thể cho tôi biết hết những vui buồn, gian khó, thiệt thòi của bà con nơid dây, nhưng đã giúp tôi thấm nhuần sâu sắc mối quán hệ quân dân đậm đà, nồng ấm khi mỗi người lính thực sự “tắm mình” trong tình cảm đó. Đã qua những giây phút đầu tiên lo lắng, phân vân và những ngày lao động nhiệt tình, vô tư trong một đợt hành quân dã ngoại, nhưng trong trâ trí tôi vẫn hiển diện những tấm lòng chất phác, hồn hậu và dung dị của bà con nơi biên giới cực Bắc xa xôi của Tổ quốc. Chuyến đi ấy chứa chan trong ký ức và hành trang đời chiến sỹ của tôi như dopngf sông và biển cả không bao giờ khô cạn.
Nguyễn Văn Hải
(Chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam)