Trường Sơn đông nắng, tây mưa
Ai chưa đến đó, như chưa rõ mình
Cũng như nhiều bạn trẻ lớn lên sau chiến tranh, tôi mong được đến thăm nơi đã từng vang danh “huyền thoại”, nơi in dấu bao kỉ niệm, bao kí ức hào hùng và đau thương của thế hệ cha ông chúng tôi: Trường Sơn. Một ngày tháng 7, trong chuyến hành hương về nguồn, tôi đã được tham gia cùng đoàn nhà báo và các cựu chiến binh về thăm đại ngàn xanh thẳm, để được nghiêng mình tri ân trước hàng ngàn nấm mộ liệt sĩ đang an nghỉ, để nghe tiếng chuông ngân mở cửa cõi âm, lắng lại lòng mình.
Năm nào cũng vậy, cứ đến tầm tháng 7 là các cựu chiến binh này lại vượt hàng trăm km đường trường để vào Quảng Trị thăm lại chiến trường xưa, thăm đồng đội. Thời gian đã xóa nhòa dấu vết chiến tranh trên “đường ra trận”. Con đường quốc lộ dần đưa chúng tôi qua những địa danh “máu lửa” một thời. Những tên đất, tên sông, tên người gắn chặt với những kỉ niệm không thể nào quên.
Qua sông Gianh, một cựu chiến binh xin dừng xe lại để anh được xuống chụp tấm ảnh kỉ niệm với bức tượng đài giao liên mới được dựng bên sông như một chứng tích anh hùng. Lặng người bên dòng sông xanh ngắt, lững lờ trôi, anh như thấy lại hình ảnh của chính mình và đồng đội đang vượt sông năm nào: “Đất này lắm sông. Mỗi lần vượt sông, bộ đội ta hi sinh nhiều lắm. Đi trong rừng còn có cây cối chở che chứ lòng sông rộng thế kia chẳng có gì che chắn. Máy bay địch lượn trên đầu thả pháo sáng, tàu địch cứ quần qua quần lại, chiếu đèn pha sáng rực cả mặt sông... Sang được bên kia sông rồi mà không dám nghĩ là mình còn sống”.

Chúng tôi đến Nghĩa Trang Trường Sơn khi trời đã về chiều. Giữa bao la gió và bát ngát cây xanh, gần 11 nghìn nấm mộ liệt sĩ nằm lặng im như một bản anh hùng ca bi tráng. Phần lớn các anh đều xa gia đình. Hàng năm, vào những dịp kỉ niệm, đồng đội và người thân lại vào thăm các anh. Giữa những hàng bia trắng, tôi bắt gặp một cụ già tuổi đã cao, mái tóc lơ thơ vài sợi bạc, khuôn mặt khắc khổ, đang lúi húi đi qua từng ngôi mộ như tìm kiếm. Nghe giọng thì đoán cụ quê ở Nghệ An. Cụ đang đi tìm người con trai thứ. Cụ nhận được giấy báo tử của anh từ trước năm 1975 nhưng không biết giờ đây anh đang nằm ở nơi nào. Sau khi đất nước giải phóng, cụ luôn canh cánh trong lòng ước mong tìm thấy anh, đưa anh về an nghỉ ở quê nhà trước khi cụ nhắm mắt. Tuổi ngày càng cao, sức khỏe yếu dấn, nhưng mong ước của cụ vẫn chưa thực hiện được. Đã từng kiếm tìm khắp nơi, cuối cùng, cụ tới Nghĩa trang Trường Sơn, tìm từng ngôi mộ với hi vọng sau cùng.

Trong đoàn chúng tôi có một nữ cựu chiến binh sắp thành bà ngoại vẫn giữ thói quen tết tóc đuôi sam như thời con gái. Chị bỗng lặng đi trước một hàng mộ liệt sĩ và bật khóc. Tiếng khóc dường như không có gì lạ ở đây, nhưng tiếng khóc bất ngờ của chị làm tôi chú ý. Tôi lại gần hỏi chị: “Chị tìm thấy mộ người thân à?”. Không ngước lên, chị trả lời: “Không”, và lẩm bẩm như tự nói với mình: “Người sống mình còn nhỏ nhen quá”. Câu nói của chị làm tôi giật mình. “Người sống mình còn nhỏ nhen quá!”. Những bon chen, những vật lộn với cơm áo gạo tiền của cuộc sống có ý nghĩa gì ở đây, nơi những con người “mãi mãi tuổi 20” đã ngã xuống. Khi chiến đấu cho tổ quốc, cho nhân dân, khi ngã xuống dưới làn bom đạn của quân thù, các anh có nghĩ gì cho bản thân, có mưu lợi cho hạnh phúc cá nhân mình?
Trong những giọt nước mắt, chúng tôi cùng nhau khánh thành quả chuông nặng 1000kg do công ty Hòa Bình (công ty của những người cựu chiến binh) cung tiến cho nghĩa trang Trường Sơn. Tiếng chuông ngân vang lồng lộng giữa núi rừng như lời mời vong linh các liệt sĩ về gặp gỡ người thân, đồng đội. Ông Nguyễn Hữu Đường (CCB, Giám đốc công ty Hoà Bình) tâm sự: “Tôi là người theo đạo Phật. Tôi đã hỏi các vị Thượng tọa nhà chùa là tại sao trong chùa lại phải có chuông? Tiếng chuông có ý nghĩa như thế nào? Các Thượng tọa giải thích, theo kinh phật thì khi làm lễ cầu siêu phải có tiếng chuông. Tiếng chuông là tiếng mở cửa âm phủ để những người dưới âm có thể lên gặp gỡ những người trên trần...”. Tiếng chuông ở nơi đây sẽ làm cho vong linh người chết được siêu thoát trong cõi tâm linh, còn người sống cũng được thanh thản trong tâm hồn.
Cuối cùng thì tôi đã được đến thăm nơi tôi hằng mong ước, nơi “một phần lịch sử Việt Nam” đang yên nghỉ giữa mây núi cây trời, nơi gió đại ngàn lồng lộng và tiếng chuông ngân vang sẽ mãi hát ru các anh trong giấc ngủ dài. Tôi đến, để hiểu mình hơn, thấy lòng thanh thản hơn và tự hứa sẽ sống tốt hơn - xứng đáng với huyền thoại một thời.
Thu Hiền