(Bài dự thi) - Tôi không may bị mắc một căn bệnh nan y khiến cho việc đi lại của tôi trở nên khó khăn, thậm chí nguy hiểm. Tôi hay té ngã và và thường cảm thấy rất mệt mỗi khi di chuyển, cứ như thể thể mỗi bước đi của tôi rút mất của tôi rất nhiều sức lực. Cả năm tôi không ra khỏi ngõ. Tôi có rất ít những chuyến đi.
Tôi có người bạn khuyết tật tên là Đỗ Trọng Khơi, một tấm gương vượt khó, một tài thơ mà tôi khâm phục và ngưỡng mộ. Chúng tôi ở cùng một huyện, tôi ước đi thăm anh nhiều lần mà không thực hiện được cho tới mùa thu năm ngoái.
Một cô học trò cũ của tôi lấy chồng gần nhà anh tình nguyện đến chở tôi đi bằng xe máy. Mẹ tôi tình nguyện ngồi sau ôm tôi. Chúng tôi đi vào buổi chiều. Mùa thu khi ấy hẳn là đang độ đẹp nhất: nắng dìu dịu, gió may hây hẩy thổi, không khí khô, sạch và trong lành. Chúng tôi đi qua những đồng lúa đang bắt đầu chuyển từ sắc xanh vàng sang vàng ruộm, qua những con sông nước trong veo, chầm chậm chảy theo gió thu. Lần đầu tiên tôi được thấy những cây hoa sữa trổ bông trên vòm cao, được ngửi mùi hương hoa sữa thơm suốt cả một đoạn đường. Tôi cảm thấy xúc động trước thiên nhiên và tự hỏi không biết có phải ông trời biết tôi khó khăn lắm mới có một chuyến đi ra ngoài nên ông dành cho tôi một buổi chiều đẹp như vậy hay không.
Anh nằm trong một căn phòng nhỏ có cửa sổ nhìn ra sân, vườn và ao. Đối diện với anh là một hàng ghế được bày sẵn. Bỗng dưng nhìn hàng ghế ấy trong đầu tôi hiện lên những câu hỏi. Trong gần năm mươi năm qua, những ai đã đến và ngồi trên những chiếc ghế ấy trò chuyện với anh? Những ai trong hành trình dài của cuộc sống đã ghé chân lại đây? Những ai đã đến trước tôi, và những ai sẽ đến sau tôi, ngồi trên những chiếc ghế này nói với anh và nghe anh nói?

Tôi run run bước vào cái thế giới thu nhỏ của anh. Anh đón tôi bằng một tiếng cười, một tiếng cười giòn mà đằm, chứa đựng niềm vui của một con người đã tìm được sự thanh thản trong tâm hồn. Tôi nhìn chiếc giường của anh, chiếc giường đặc biệt của một người không thể tự di chuyển được bằng đôi chân của mình. Những cuốn sách, những tập báo, chiếc máy tính xách tay, những chiếc điều khiển từ xa, những chiếc điện thoại, ấm và chén uống nước, đều ở trong tầm tay với của anh. Tất cả đều ở đây. Và những vần thơ chan chứa tình người, tình quê, tràn đầy lòng yêu đời và tinh thần kiên cường của một lữ khách trong hành trình gian khó nhưng đầy ý nghĩa trên đường đời cũng từ nơi này mà ra. Tôi mang đến tặng anh một cuốn tiểu thuyết tôi dịch vừa được xuất bản góp thêm vào cái thế giới ấy một chút gì đó của riêng tôi, của chuyến đi hiếm hoi này.
Tôi ở chơi với anh cho đến cuối chiều. Anh tiễn tôi bằng ánh mắt lưu luyến dõi theo tôi cho tới khi tôi ra khỏi căn phòng. Người mẹ già tiễn khách bằng lời hẹn gặp lại rất tha thiết. Khi tôi lên xe, dường như chợt nhớ ra điều gì bà ghé tới gần tôi và hỏi, “cô có làm được bài thơ nào không?” Tôi mỉm cười. Tôi biết, với bà, thơ là thứ gì đó quan trọng lắm bởi vì nó là máu thịt của con trai bà.
Chúng tôi về theo lối chúng tôi đã đi. Vẫn con đường ấy, vẫn những cánh đồng ấy, vẫn những cơn gió dìu dịu của mùa thu, chỉ có cái nắng là đã nhạt đi trong màn sương quyện lẫn khói chiều lảng bảng sau những lũy tre làng. Tôi không thấy mệt, tôi không thấy buồn mà thấy lòng thanh thản lạ. Có lẽ cảnh làng quê thân thương, những nét thu mộc mạc mà quyến rũ, và sự thanh thản mà tôi cảm nhận được từ tiếng cười của bạn tôi đã truyền cho tôi thêm sinh lực.
Tôi lưu giữ những ấn tượng và cảm xúc khó quên của chuyến đi giản dị, ngắn ngủi đó trong bài thơ này. Mỗi lần đọc lại bài thơ tôi cảm thấy như thể tôi lại được đi thăm bạn tôi, lại được thưởng thức một chiều thu thật đẹp. Vẫn con đường ấy, vẫn những cánh đồng ấy, vẫn những dòng sông ấy, và tiếng cười thanh thản ấy…
Em đi qua những đường trong trẻo nắng
Những sông nghiêng lặng ôm bóng thu soi
Những đồng hé tin mùa thơm sóng sánh
Những cây rung chơm chớp gió giao mùa
Đến phòng anh khít một hàng ghế đứng
Em hư ảo chỉ mùa thu mới thực
Em đi rồi thu ở lại với anh
Nguyễn Bích Lan