(Bài dự thi) - Năm 1983, tôi tốt nghiệp đại học và được điều động vào Nam nhận công tác. Mới tròn tháng, ông giám đốc Sở đã gọi tôi lên nói " Đơn vị X mời người đi với họ để làm một cuốn phim tài liệu về bộ đội làm kinh tế. Cơ quan cử cháu đi. Chịu không? ". Tất nhiên là tôi chấp hành mệnh lệnh.
Chúng tôi khởi hành trên chiếc đầu máy kéo. Trừ tôi ra còn toàn các sĩ quan hậu cần. Hồi ấy đang mùa mưa. Con đường lên Mã Đà dày đặc ổ voi, nát bấy. Xe lắc lư đến lộn cả gan ruột. Mỗi lần xe chao như đưa võng mọi người lại xiêu đổ vào nhau, tiếng cười rộ lên. Kinh hoàng nhất là khi leo dốc, thùng xe lúc thì đột ngột dựng lên, lúc lại nghiêng hẳn sang một bên, chỉ chực rơi xuống vực. Mỗi lần như vậy tim tôi đập như trống trận nhưng bề ngoài vẫn cố tỏ ra thản nhiên. Mã Đà là đại bản doanh của bộ đội thời kháng chiến chống Mỹ. Hàng ngàn tấn bom đạn đã được giặc dội xuống đây hòng triệt phá chiến khu Đ. Bây giờ rừng nhiều chỗ đã lên xanh, như vết thương trên da đã liền sẹo. Nhưng dấu tích một thời khốc liệt vẫn còn lưu lại trên các bãi trống chơ vơ những thân cây cụt ngọn, cháy sém vì bom napan. Tôi đang nao nao trước cảnh hoang tàn thì ai đó bỗng cất tiếng hát "Năm anh em trên một chiếc xe tăng", tôi và mọi người hòa giọng hát theo. . ..
Xe chạy qua những doanh trại bộ đội vắng vẻ. Chúng tôi dừng lại trên con đường đất đỏ chạy giữa những nương bắp, đậu phộng, mè…xanh om. Chắc hôm trước vừa có mưa nên đất đỏ dẻo quánh như sáp, tôi phải bỏ dép, vo quần lên ngang gối. Máy quay phim lướt đến đâu, tôi phải chạy theo đến đó. Bộ đội đang tiếp tục phát cỏ, chặt cây, tỉa hạt. Có những chỗ cỏ dại mọc cao lút đầu, dây leo chằng chịt, nghe nói dưới đất còn có cả bom đạn chưa nổ. Mồ hôi chảy ròng ròng trên những gương mặt lính măng tơ. Tất cả dừng tay để theo dõi đoàn làm phim. Chiếc áo sọc đỏ của tôi nổi bật trên nền xanh của khung cảnh khiến nhiều ánh mắt nhìn theo. . .
Sau đó, chúng tôi đi quay các khu trại chăn nuôi heo và hồ thả cá. Buổi trưa, đoàn ăn cơm trong căn bếp dã chiến. Vách bếp treo lủng lẳng những chùm bắp giống, trái nào cũng to mập, hạt đều tăm tắp. Mọi người ăn ào ào dù gạo cũ vừa hôi, vừa nhiều sạn, thức ăn chỉ có canh bắp chuối rừng và khô cá đù mặn. Lần đầu tiên, tôi hiểu bộ đội thời bình cũng gian khổ chẳng thua thời chiến tranh là bao.
Buổi chiều đoàn trở về bằng đường thủy. Sông Đồng Nai đang mùa lũ, vùng thượng nguồn trải rộng mênh mông. Xuồng máy ra giữa dòng thì bắt đầu tăng tốc, lướt băng băng. Chúng tôi đang say sưa ngắm cảnh sông nước thì một người bỗng nói " Chà. Sắp mưa rồi. Nguy to". Qủa vậy. Trên đầu chúng tôi, mây đen vần vũ, sà xuống thật thấp như để hù dọa. Rồi gió bắt đầu mạnh lên. Vị đại úy lớn tuổi nhất hỏi tôi "Cô có biết bơi không?" Tôi đỏ mặt đáp lí nhí "có ạ" nhưng không dám nói, tôi chỉ biết duy nhất một kiểu. bơi chó và cũng chẳng giỏi giang gì. Lát sau, mưa bắt đầu trút ào ạt. Đúng lúc ấy,chiếc xuồng bỗng dở chứng, chết máy. Ngay lập tức, nước mưa dềnh lên trong lòng xuồng. Mọi người vội tìm cách đối phó. Tất cả nón cối đều được dùng làm, gàu tát nước. Ai nấy tát ì oạp. Vừa tát nước, trưởng đoàn vừa "quán triệt": phương án xấu nhất là xuồng chìm thì ai nấy phải, tự cứu. Giày dép bỏ tuốt cho khỏi nặng. Riêng máy quay thì phải bọc ni lon cho khỏi ướt. Không hiểu sao, tôi vừa sợ, vừa thích thú với viễn ảnh phải vật lộn giữa dòng sông trong cái lạnh thấu xương vì ngấm mưa. Trong lúc đó, người cầm bơi chèo vẫn đang cố lái cho chiếc xuồng trôi chếch về phía bờ bên kia. Bên ấy có mấy cái lò nấu đường của dân, chúng tôi có thể đến đó tá túc, chờ hết mưa sẽ tính tiếp. .
Xuồng tấp vào bờ cỏ um tùm, có một lối đi nhỏ trơn trợt. Chúng tôi hối hả trèo lên, hân hoan với ý nghĩ sắp được ngồi trước bếp lửa để sưởi ấm. Nhưng chưa kịp vui thì những người đi trước đã trở ra, ỉu sìu: tất cả các lò nấu đường đều nghỉ. Chúng tôi vào một cái lò ven đường: những chiếc chảo nấu đường to đoành nằm chỏng trơ, lạnh ngắt. Vậy là hết hy vọng !
Nhưng trong cái rủi vẫn có cái may. Thợ lái đã sửa được máy và chúng tôi lại lên xuồng, tiếp tục cuộc hành trình.
Đoàn làm phim về tới Bến Gỗ đường phố đã nhập nhòe ánh điện. Chúng tôi vào một quán phở, ăn tối. Hai bàn tay tôi lúc này cứng đơ và lạnh buốt như hai cục nước đá. Tôi cảm thấy mệt rã rời, chỉ muốn lăn ra ngủ rồi muốn ra sao thì ra.
Sau đó, tôi đã viết lời bình phim dựa trên những gì đã "mục sở thị" và một số tư liệu lịch sử. Phim được chiếu nghiệm thu ở hội trường đơn vị bộ đội. Xem xong, một vị đại tá nói vui "Tôi đánh nhau ở cửa ngõ Xuân Lộc suýt chết mà xem ra không rành chiến tranh bằng cô nhỏ này". Một bác cao tuổi, là anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân khen tôi " Coi tướng tá nắng không ưa mưa không chịu vậy mà cũng lên rừng xuống biển được, người nhà nước giỏi thiệt ".
Hoàng Ngọc Điệp