(Bài dự thi) - Đoàn thực tế sáng tác của Khoa viết văn trường ĐH Văn hóa Hà Nội có mặt tại xã Suối Giàng huyện Văn Chấn-Yên Bái lúc 10h trưa ngày 18/03/2008. Trong màn sương ảo mờ, chúng tôi nhận ra những dáng người bé nhỏ lẫn trong làn sương mỏng như những hạt nước tinh khiết, đang chuyển dần lên sườn dốc.
Con đường quanh co khúc khuỷu ôm lấy dãy núi như một con rắn khổng lồ. Thoáng chốc sương tan, nhanh tựa vốc nước trên lá môn, đổ ào trong một thoáng gió va nhẹ. Ấn tượng đầu tiên với chúng tôi là những ánh mắt trẻ thơ trong trẻo như những hạt sương của núi rừng Tây Bắc. Cảnh núi rừng ở đây thật mộng và thơ. Nhưng hơn hết là những đôi mắt trong, tròn đầy ám ảnh.
Có lên Suối Giàng mới cảm hết được vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ nơi đây. Sau một thoáng ngỡ ngàng, chúng tôi như bừng tỉnh trước màu váy sặc sỡ, sinh động của họa tiết, hoa văn trên trang phục mấy cô bé người Mông đang dắt díu nhau lên triền dốc. Tiếng cười trẻ thơ trong trẻo vỡ vào mây núi như suối reo trong lòng thung, làm tan đi những mệt mỏi sau gần hai tiếng đồng hồ trên con đường trắc trở đến thung lũng Suối Giàng. Cảnh sắc đã đẹp nhưng còn đẹp hơn khi được điểm tô lên đó những vóc người, những nụ cười và niềm khát khao vươn tới tri thức từ những đôi mắt biết nói. Thấp thoáng trong màn sương đang chạy dần xuống chân đèo là những lớp học khá khang trang, xa xa vẳng lại tiếng trẻ đọc bài, bình yên và tĩnh tại.
Khi mới đặt chân đến thành phố Yên Bái chúng tôi được nhà văn Hà Lâm Kỳ giới thiệu đôi nét về văn hóa, phong tục tập quán cũng như cảnh vật và con người nơi đây. Đặc thù Yên Bái có hơn 30 dân tộc cùng sinh sống, tuy nhiên số dân tộc phổ biến là mười một, nhiều nhất vẫn là Kinh, Tày, Thái, Dao. Theo như nhà văn Hà Lâm Kỳ thì phong tục tập quán nơi đây, hủ tục vẫn còn khá nặng nề. Cách đây mười năm vẫn còn chuyện sinh con ngoài rừng, cách sáu năm về trước, người Mông mất vẫn để thi thể trong nhà mười đến mười lăm ngày, cho con cháu bón cơm. Điều mà nhà văn Hà Lâm Kỳ trăn trở hơn cả là trình độ văn hóa ở Yên Bái còn rất thấp, một số dân tộc không chú trọng đến việc học hành, trẻ em chỉ học đến lớp 3, lớp 4 là nghỉ học, lên rừng phát nương làm rẫy…
Suối Giàng là một xã nhỏ của một huyện vùng cao, nơi đây sinh sống nhiều hơn cả là dân tộc Mông, cuộc sống tuy còn khá vất vả nhưng nhìn những ánh mắt và sự hồ hởi của những đứa trẻ đang đeo cặp tíu tít đến trường khiến chúng tôi không khỏi vui mừng và có một niềm tin vào tương lai về một Suối Giàng tri thức và văn hóa. Tiếp xúc với con người nơi đây mới thấy được cái khát vọng con chữ của họ, thật đáng trân trong và nể phục biết bao.
Khi tôi hỏi một cậu bé vì sao em đi học mà không vào lớp? Tôi nhận được câu trả lời đầy bất ngờ “Cháu học chiều nhưng vì nhà xa phải đi bộ hơn hai tiếng đồng hồ nên đến sớm cho kịp!”. Nhìn mái tóc vàng hoe cháy nắng, tôi bỗng cảm phục vô cùng những đứa trẻ nơi đây, các em cũng giống như những cây chè Tuyết Shan trước nắng mưa, sương gió đồng rừng, làm nên hương vị cho vùng đất quê hương.
Tôi lặng đi trong tiếng đọc bài râm ran cùng những ánh mắt chăm chú hướng lên bảng. Lâu lắm rồi mới lại có được cảm giác như vậy. Tôi đồng cảm với những đứa trẻ nơi đây bởi nhìn chúng, tôi như thấy lại mình ngày nhỏ. Cũng như các em, tuổi thơ tôi cũng leo núi cắp sách đến trường, cũng vàng hoe mái tóc, cũng đến sớm lê la, chờ đợi đến đầu giờ chiều để được học cái chữ.
Trong lớp học của một trường mầm non, một lần nữa chúng tôi được mục sở thị cái không khí háo hức, hồ hởi trong từng câu hát, từng điệu múa với những ánh nhìn rất đồng rừng. Các em bi bô nói chuyện với chúng tôi bằng một thứ giọng lơ lớ đặc chất thổ ngữ, nụ cười trong trẻo cùng ánh mắt ngây thơ cứ ám ảnh, vây riết lấy chúng tôi. Dù không muốn so sánh nhưng ai cũng nhận thấy trong ánh mắt ấy, nụ cười ấy thật không giống những đứa trẻ đồng bằng. Vào một lớp mẫu giáo bé mà không hề có tiếng khóc, không có sự phụng phịu dỗi hờn của sự nuông chiều thái quá như ở những nơi điều kiện kinh tế phát triển. Đồ chơi của các em chỉ là những viên bi, những que vàu, những tờ giấy xanh đỏ, vậy nhưng các em rất say sưa với những đồ chơi của mình. Cô giáo Linh phụ trách lớp là người miền xuôi lên đây dạy học, nhìn ánh mắt đầy hạnh phúc của chị, tôi thấy trong đó một tình yêu, một niềm đam mê với nghề, với trẻ thơ. Tôi chắc rằng để làm được điều đó cô phải là người tâm huyến lắm, đồng cảm lắm mới có được tình yêu thương với các em nhỏ vùng cao đến vậy.
Tạm biệt thung lũng Suối Giàng, tạm biệt các em bé Mông xinh xắn và đáng yêu, tạm biệt những người chèo đò đáng kính, chúng tôi xuôi đèo về xuôi, mang theo trong mình tình thương mến da diết cùng những ánh mắt trong trẻo, thơ ngây với niềm tin vào một tương lai từ những đôi mắt biết nói.
Một lớp mầm non ở xã Suối Giàng

Những học sinh đang chờ đến đầu giờ chiều để vào học

Cảnh sương sa ở Suối Giàng

Chè Shan Tuyết trong sương - nơi những đứa trẻ vẫn thường ngồi đợi đến giờ vào lớp.

Cây Shan tuyết già săn chắc qua sương gió đồng rừng.
Hoàng Chiến Thắng