Tôi chưa bao giờ được xuyến xao cùng mùa thu đất Bắc, chỉ những vần thơ nói cho tôi hay “thu là thơ của đất trời, thơ là thu của lòng người” và một trong những vần thơ đó là bài“Bối rối” của Đinh Vũ Hoàng Nguyên:
“Ta đợi em và mùa thu cũng đợi
Em giấu em sau nụ cười chợt vội
Ta giấu ta - mưa lá ngang lời.
Có điều gì em mím ở vành môi?!
Vành môi mảnh như trăng chiều cả thẹn.
Ta buông rèm đêm, em đừng níu nắng.
Đừng thả giọt lòng
lơ lửng
hóa heo may…”
Ở bài thơ này, Nguyên không vẽ thu cảnh mà vẽ thu tâm, đó là tâm trạng mơ hồ không thể diễn tả được bằng khái niệm, bằng định nghĩa nên phải dùng thơ:
“ Ta đợi em và mùa thu cũng đợi”
Cả “ta”, cả “mùa thu”, cả đất trời, cả lòng người cùng đợi em, cùng đau đáu một nỗi niềm và điều đó thể hiện qua điệp từ “đợi”, qua liên từ “ và”, một liên từ tưởng chừng vô nghĩa nhưng đã làm rộng thêm ra khoảng thời gian khắc khoải đến mỏi mòn.
Và sau nỗi đợi chờ rất thực là cuộc hội ngộ trong tưởng tượng, trong hình dung của nhân vật trữ tình, cuộc hội ngộ với cảm xúc bao trùm là “bối rối”. Vẻ bối rối được giấu vụng về sau “nụ cười chợt vội” của em, sau “ mưa lá ngang lời” của ta. Hình ảnh “mưa lá” vừa gợi âm thanh xao xác, vừa gợi nỗi lòng ngổn ngang, gợi nhớ những giọt âm thanh trong “Lá đổ muôn chiều” của Đoàn Chuẩn - Từ Linh.
Cảm xúc “bối rối” vẫn không ngừng tuôn chảy trong mạch thơ:
“Có điều gì em mím ở vành môi?!
Vành môi mảnh như trăng chiều cả thẹn”
Tôi thật bất ngờ với hình ảnh e ấp, thẹn thùng mà dễ thương đến lạ, từng có vành môi duyên dáng “cắn chỉ quết trầu”, vành môi quyến rũ “đượm mùi nho tươi” … nhưng ở đây là “vành môi mảnh như trăng chiều” vô thường như ảnh ảo! Trăng luôn đi liền với đêm, tỏa sáng trong đêm, trăng ở đây xuất hiện giữa ban chiều, trăng hiện ra sớm quá! Khi ngàn sao còn chưa đến, khi mặt trời còn thức với hoàng hôn, và có lẽ chính vì sự háo hức, sự vội vàng của mình mà trăng “cả thẹn” hay chăng?
Thế nhưng, dù bẽn lẽn thì “ta” và “em” cũng gặp gỡ rồi, có điều,trong “ta” vẫn ngại ngần, vẫn mơ hồ về một điều gì đó mang tính ảo tưởng hay một giả định huyễn hoặc, cũng có thể nói hạnh phúc bất ngờ đến không dám tin đó là sự thật !?!
“Ta buông rèm đêm, em đừng níu nắng.
Đừng thả giọt lòng
lơ lửng
hóa heo may…”
Câu thơ tám chữ với nhịp bẻ đôi, giữa “ta” và “em” là một ngăn cách (dấu phẩy) tuy mỏng manh nhưng vời vợi, tương phản như “đêm” và “nắng”, trái ngược như “buông” (không cầm giữ nữa, phó mặc cho tự do) và níu (nắm lấy, kéo về phía mình), đối nhau như một vế toàn thanh bằng (Ta buông rèm đêm) và một vế với hai thanh trắc liền kề (em đừng níu nắng). Niềm “bối rối” trong mạch cảm xúc hình như biến hóa ở đoạn cuối cùng, tôi cảm giác được sự thảng thốt (dù nhẹ nhàng), sự âu lo (dù thấp thoáng) qua điệp từ “đừng” và việc xuống dòng phá cách tạo thành nhịp thơ ngắn như tiếng lòng thắc thỏm:
“Đừng thả giọt lòng
lơ lửng
hóa heo may…”
Vâng, đừng nửa vời, đừng lơ lửng để rồi chút tình mong manh, mới chớm sẽ hóa gió mùa thu bàng bạc giữa đất trời. Tôi cho rằng đây là một câu thơ hay, hay ở cách dùng từ (thả, lơ lửng), cách kết hợp từ (giọt lòng) giản dị mà tinh xảo, tạo nên những “khoảng trắng” trong tư duy của người tiếp nhận; hay ở việc ngắt nhỏ câu thơ mà không vụn ý và sự kết hợp âm thanh bằng trắc để tạo nên sự mâu thuẫn giữa trường độ nhịp thơ và âm điệu… tất cả điều ấy đã diễn tả trọn vẹn sự đan xen những cảm xúc phức tạp trong tâm tư của nhân vật trữ tình, thứ cảm xúc mà ngôn từ không sao nói hết!
Đến dấu ba chấm (…) cuối cùng của bài thơ thì điều tôi cho là “rất thực” ở ban đầu đã trở thành hư ảo. Vâng, có lẽ giữa thực và ảo là một ranh giới mong manh như sợi tóc mà chỉ tâm hồn tinh tế của người nghệ sĩ mới cảm nhận được thôi …
Tôi được biết bài thơ này từ khi ra đời đến nay đã được người viết vài lần chỉnh sửa, đó là một thái độ lao động nghệ thuật đáng quý vô cùng, tác giả đã lặn sâu vào đại dương ngôn ngữ, không phải để nhặt những mảnh san hô tầm thường mà để tìm cho được những viên ngọc trai lấp lánh. Thế nên, tôi cũng “đọc” bài thơ bằng tất cả sự trân trọng, dù rằng có thể tôi chưa hiểu hết ý thơ hoặc chưa hiểu đúng ý thơ, bởi vì nói như Gác- xi-a Looc- ca: “chừng nào chúng ta hiểu hết một câu thơ, chừng ấy câu thơ cũng chết”.
Lê Uyển Văn