
Nghề nghiệp giúp tôi được đi đây đi đó. Cái gốc gác nông dân giúp tôi có niềm đam mê lang bạt trên những vùng nông thôn, miền núi và dạy tôi khả năng dễ dàng lê la với những người nông dân chân tay lấm len bùn đất. Nhớ về những ấn tượng khó quên mỗi lần được nhận đồng quà tấm bánh khi xưa, tôi cũng muốn được thấy lại ký ức tuổi thơ mình nơi những ánh mắt hồn nhiên của đám trẻ nông thôn nghèo khó. Vậy là, trong hành trang của những chuyến đi, tôi không bao giờ quên mang theo những món quà nho nhỏ: là tấm áo manh quần, chiếc khăn, mũ len, chiếc bút chì, thước kẻ, quả bóng nhựa, cầu mây hay những hộp bánh, gói kẹo… Cứ dừng chân ở đâu, xong công việc là tôi lại lang thang trên những nẻo đường quê; hoặc ra bãi cỏ ngoài đồng đánh bạn với đám trẻ trâu, hoặc tạt vào một bóng cây ven đường làm quen với mấy chú nhóc đang hò hét mê tơi với những con quay, cái khăng, đùa nghịch với những cô bé đang ngồi dãi thẻ chơi ô ăn quan, trồng nụ, trồng hoa… Và ấn tượng của tôi về những lần làm bạn với đám trẻ ấy thì thật đặc biệt.
Lần đi công tác ở xã Hồng Vân, huyện A Lưới, Thừa Thiên - Huế, gặp một tụi nhóc đang đi lượm phế liệu, tôi lân la làm quen, trêu đùa một lúc rồi bảo các em xếp hàng để được chia những món quà nhỏ. Các cô cậu chen lấn nhau xếp thành một hàng cong queo. Thống nhất với các em rằng từng người sau khi nhận quà thì rời khỏi hàng, ra bãi cỏ bên cạnh ngồi để nhường lượt cho bạn khác.
Kỷ niệm với đứa trẻ người Mông ở xã Pà Vầy Sủ, huyện Xín Mần, Hà Giang thì lại cho tôi những ấn tượng khác. Hôm ấy, tôi và anh bạn đồng nghiệp đang ngồi ăn trưa trong cái quán tuyềnh toàng bên đường. Thấy một cô bé đứng lấp ló ngoài cửa, chúng tôi vẫy vào. Cảm nhận được sự thân thiện của chúng tôi, em dần gỡ bỏ sự ngại ngần. Thấy chúng tôi đang ăn mỳ tôm, em thốt lên: “Các chú ăn toàn thức ăn”. Thấy lạ, gặng hỏi, chúng tôi mới được em cho biết rằng, với gia đình mình, những bánh mỳ tôm chính là thứ đưa cơm trong mỗi bữa ăn. Cô bé Giàng Thị Khu nhỏ nhẹ kể tường tận: Mỗi bữa nấu cơm, mẹ em cho nhiều nhất là 1 bánh mỳ tôm (loại mỳ tôm chất lượng thấp nhất, được đóng thành từng 20 bánh/túi) vào nồi canh rau lõng bõng nước, coi đó như những xương, thịt, cá để gánh nồi canh. Còn bữa nào ngoan lắm, chị em Khu mới được mẹ bẻ cho ¼ bánh mỳ tôm đặt lên bát cơm trắng để làm thức ăn. ¼ bánh mỳ tôm khô khốc để gánh cả một bát cơm đầy tú hụ nên Khu phải dè xẻn từng miếng nhỏ mỳ tôm sống. Chả trách khi thấy chúng tôi ăn cả một tô mỳ tôm, Khu thảng thốt đến vậy. Nghe Khu kể, mắt tôi cay sè khi nghĩ đến cuộc sống nghèo khó của bà con dân tộc ít người và ám ảnh bởi đôi mắt tròn vo ngơ ngác của nhánh hoa rừng này. Nhưng điều bất ngờ hơn cả là khi tôi gọi một tô mỳ tôm tú hụ để mời Khu ngồi ăn cùng, cô bé nhỏ nhẹ: “Chú cho cháu xin phần đấy để mang về cho mẹ nấu canh”. Tôi lặng người và thực sự nể phục tấm lòng của cô bé. Nhận không chỉ hai bánh mà là hai túi mỳ tôm quà tặng của chúng tôi, Giàng Thị Khu cười tít cung thang rồi khuất sau những đường mòn xám lạnh màu đá, nhảy chân sáo về nhà…
… Mỗi khi kiếm được khoản tiền nào, tôi cũng trích ra một phần để gây quỹ buôn làng. Mỗi chuyến công tác lên vùng nông thôn, miền núi, ba lô tôi đều chật căng những gói quà. Dù giá trị vật chất của chúng rất nhỏ nhoi nhưng tôi tin, niềm vui mà chúng mang lại cho trẻ nhỏ nơi những miền quê khốn khó ấy là vô cùng. Suốt cả đời lang bạt này, tôi nguyện là khách qua đường để hy vọng mang đến những niềm vui bình dị cho những thiên thần ở nơi chốn mình dừng chân!