Nhạc Việt, tiếng Tây & câu chuyện hội nhập Bỏ qua những chuyện Tây hóa nhạc ta - nửa nạc nửa mỡ (báo Tuổi trẻ TP.HCM số 6/10/2009) với những album mà toàn bộ “vỏ” (bìa đĩa) được làm rất “Tây”, toàn bằng tiếng Anh, nhưng “ruột” đều là Việt, thậm chí còn là những bài hát Việt rất xưa hoặc rất “sến”. Bỏ qua trào lưu chèn sorry, miss you, need you, love you, baby... vào giữa các bài hát tiếng Việt hay kiểu tên lai ghép Tây, Việt kiều của các ca sĩ trẻ gần đây. Chuyên đề Nhạc Việt, tiếng Tây và câu chuyện hội nhập nhìn vấn đề “Tây hóa nhạc Việt”, hay đúng hơn là “Quốc tế hóa” bài hát Việt một cách nghiêm túc như chính các dự án âm nhạc này đã và đang tìm đường hội nhập. ![]() Năm 2007, Mỹ Linh trở thành ca sĩ Việt Nam đầu tiên vào được một trong ba hệ thống phát hành băng đĩa lớn nhất của thị trường Nhật Bản, với ba album hát tiếng Việt nhưng được thiết kế và quảng bá tại Nhật. Tổ chức chuyên đề:VIỆT TÚ |
(TT&VH Cuối tuần) -Con đường nào sẽ đưa bài hát Việt Nam (xin nhấn mạnh là bài hát chứ không phải âm nhạc Việt Nam nói chung, bao gồm âm nhạc cổ truyền, bài hát và nhạc không lời) đến với công chúng thế giới, lâu nay vẫn là một bài toán nan giải. Tuy nhiên, một phương án được nghĩ tới đầu tiên, đó là “quốc tế hóa lời ca”. Tương tự việc các tác phẩm văn chương Việt Nam phải qua con đường dịch thuật để đến với thế giới, phim Việt Nam phải làm phụ đề tiếng Anh trước khi tới các LHP, thì phải chăng “khi người nước ngoài chưa hiểu những bài hát tiếng Việt thì ca khúc Việt Nam chưa bước ra thế giới được”?

Khi bài ca không chỉ là nốt nhạc
Lâu nay, số đông vẫn nhất trí với quan điểm “quan trọng nhất của bài hát là âm nhạc”, nghĩa là, nếu âm nhạc hay, phổ cập, thì dù hát tiếng Anh, Ý, Thổ Nhĩ Kỳ... thì người nghe vẫn thích mê. Thế nhưng, sự thực là nếu ca sĩ, bài hát sử dụng ngôn ngữ có đông người sử dụng hơn (tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Hoa) thì sức phổ cập lớn hơn. Và sự thực là, nhiều ban nhạc và ca sĩ nổi tiếng ở những quốc gia không nói tiếng Anh vẫn chọn tiếng Anh là “ngôn ngữ âm nhạc” chính của mình. Album hát tiếng Pháp vốn là tiếng mẹ đẻ của Celine Dion (người Canada) thường được xem là bản đặc biệt của nữ danh ca này bên cạnh hầu hết các album hát bằng tiếng Anh của cô. Tương tự, các ban nhạc lừng danh ABBA không hát bằng tiếng Thụy Điển, Scorpions, Modern Talking hay cô ca sĩ Sandra cũng không phát hành album bằng tiếng Đức (tiếng mẹ đẻ) mà đều chọn tiếng Anh. Những ca sĩ và ban nhạc pop (hiểu theo nghĩa “đại chúng”) có lý của họ khi tìm đến công chúng đông đảo bằng thứ ngôn ngữ của số đông. Vì muốn nói gì thì nói, “bài ca không chỉ là nốt nhạc” (vì nếu chỉ là nốt nhạc thì người ta đặt lời cho nó làm gì, nếu không nói quá rằng, đôi khi nhờ có lời mà bản nhạc dễ được phổ biến hơn).

Một liên hệ khác trong quá khứ tân nhạc ở Việt Nam, để phổ biến các bản nhạc Tây, nhiều nhạc sĩ thời kỳ đầu tân nhạc còn viết lời Việt cho nhạc Pháp, cũng như một số ca khúc Pháp, Nhật, Philippines được phổ biến bằng lời Việt thậm chí còn thông dụng hơn là ngôn ngữ gốc. Chuyển sang ngôn ngữ thông dụng hơn, gần gũi hơn với khu vực công chúng mà ca khúc hướng tới không phải là con đường duy nhất, nhưng có thể thấy đó là một con đường khá mở rộng để đưa ca khúc ra khỏi chỗ đứng ban đầu của nó. Chuyển lời ca khúc Việt sang tiếng Anh (hay một ngôn ngữ khác) để tiếp cận với những công chúng ngoài Việt Nam, hoặc trực tiếp sử dụng tiếng Anh trong ca khúc Việt dành cho công chúng Việt Nam “toàn cầu” thực ra không phải một ý tưởng mới, mà chỉ trở lại khi giới nhạc bắt đầu nghĩ tới chuyện hội nhập.
Hội nhập tại chỗ
Năm 1999, Hồng Nhung là ca sĩ đầu tiên phát hành album có sử dụng phần chuyển lời Anh cho bốn ca khúc của nhạc sĩ Dương Thụ (album Bài hát ru cho anh). Tất nhiên 10 năm trước đây chuyện “lai căng” này sẽ gặp sự phản đối các cơ quan quản lý văn hóa, album cũng phải xin phép lên xin phép xuống mới được phát hành. Có thể nói việc hát các ca khúc chuyển lời Anh ở thời điểm ấy là một nỗ lực đáng ghi nhận của Hồng Nhung, nhưng cũng phải thừa nhận, những cố gắng này gần như chỉ dừng lại ở “đổi gió cho vui”, vì album nói trên vẫn chỉ nhằm vào thị trường trong nước. Với khán giả Việt lúc đó, nghe bài hát Việt do ca sĩ Việt hát tiếng Anh một cách “rất Việt Nam” chỉ cho “vui tai” là chính. Mặc dù Hồng Nhung đã tốt nghiệp đại học Anh ngữ và là một trong những ca sĩ giỏi tiếng Anh vào loại nhất ở Việt Nam hiện nay nhưng hát tiếng Anh bài hát Việt trong album này lại có chiều... không ổn. Chính ca sĩ cũng nhận thấy điều này, vì vậy, mặc dù sau bốn ca khúc chuyển soạn tiếng Anh đầu tiên này, Hồng Nhung đã có trong tay nhiều ca khúc khác (cũng của nhạc sĩ Dương Thụ) được chuyển dịch lời Anh (do một nhà văn Mỹ viết), nhưng dự án “Anh hóa ca khúc Việt” của Hồng Nhung xem như dừng lại ở đây.

Bẵng đi một thời gian, chuyện thử sức hát nhạc Việt tiếng Anh lại trở thành cơn sốt trong giới ca sĩ. Nhất là những năm gần đây, làng nhạc được bổ sung thêm hàng loạt nhạc sĩ trẻ, có sự cập nhật hơn đời sống quốc tế, và tất nhiên vốn ngoại ngữ của họ cũng được phát triển hơn trong các chuyến du học nước ngoài, thì lực lượng sáng tác ca khúc bằng tiếng Anh đã đông đảo hơn. Với xu hướng mới, ca khúc Việt không phải chuyển dịch sang lời Anh, mà được viết thẳng phần lời bằng tiếng nước ngoài. Có thể “điểm danh” một loạt ca sĩ đã từng đưa ca khúc tiếng Anh vào album: Mỹ Tâm với ca khúc Hurt so much trong album Trở lại; ca khúc Leave me alone được Phương Vy thể hiện trong album Lúc mới yêu, Thu Minh “phiêu” với Last kiss goodbye, It”s all over trong album “Tây hóa” ngay từ cái tên : I do. Trong album Tái sinh, nhóm rock Unlimited cũng hát một vài ca khúc tiếng Anh, nhưng chỉ là theo kiểu “thêm hương thêm hoa”. Gần đây, xu hướng quốc tế hóa còn mạnh mẽ hơn khi hàng loạt các ca sĩ hứa hẹn sẽ làm album hoàn toàn bằng tiếng Anh như dự án album Unmakeup của Đoan Trang sẽ phát hành vào cuối năm nay, hay lời hứa của Mai Khôi với album tập hợp tất cả các ca khúc tiếng Anh do chính cô sáng tác. Trong album The first single của Hồ Ngọc Hà, có 2/4 ca khúc được hát bằng tiếng Anh. Đức Tuấn khá mạnh dạn và “can đảm” khi hát 10 bài tiếng Anh, một bài tiếng Pháp trong album Music of the night.
Bỏ qua những trường hợp hát tiếng Tây theo mốt, như chen chúc “miss you”, “need you”, “love you” giữa lời Việt, những ca khúc và album nói trên thể hiện một cố gắng nghiêm túc của các ca sĩ và nhạc sĩ sáng tác. Thế nhưng, nghiêm túc cũng vẫn có chuyện. Không ít ca khúc và album nhạc Việt lời Anh được làm một cách tự phát, và hơn nữa có lẽ do sự “nhập tâm” quá mức của một số ca sĩ và nhạc sĩ mà hầu hết ca khúc họ mang đến công chúng thường mang nặng âm hưởng của các ca khúc đang hot trên các bảng xếp hạng thế giới. Kiểu như khi Hồ Ngọc Hà vừa phát hành album The first single, các fan đã nhao nhao: bài My apology “mang âm hưởng” ca khúc Poker Face của Lady Gaga, còn Girl’s night có hơi hướm của Britney Spears, video clip kèm theo lại gợi nhớ Beyonce... Chưa kể, có lẽ do trình độ sử dụng ngoại ngữ của các nghệ sĩ Việt còn giới hạn nên quanh đi quẩn lại trong ca khúc tiếng Anh của họ là những câu chữ quen thuộc, đơn giản, lặp đi lặp lại trong nhiều ca khúc phổ thông khác. Riêng nhà sản xuất Lê Thanh Hải với hai album “quốc tế hóa” nhạc Việt: Shadow In The Dark (từ bản tiếng Việt Bóng tối ly cà phê, phát hành năm 2008) và Sun Dance (từ bản tiếng Việt Mặt trời êm dịu, vừa phát hành tháng 10/2009) lại chọn con đường hoàn toàn khác: mời ca sĩ và nhạc công nước ngoài chơi nhạc và hát ca khúc Việt Nam. Nếu Shadow in The Dark mới chỉ có hai ca khúc được hát tiếng Anh thử nghiệm, thì tới Sun Dance, toàn bộ album gồm tám ca khúc đều được thể hiện theo cách này. Ở Sun Dance, phần “Tây hóa” (ca sĩ Philippines và hai nhạc công khá nổi tiếng của Mỹ) không chỉ dừng lại ở phần ngôn ngữ (lời ca) mà ở cả cách chơi nhạc và cách thể hiện của ca sĩ. Chơi theo phong cách jazz nên phần thể hiện của các nghệ sĩ Tây trong album này khá ngẫu hứng, và phải nói là khá... Tây. Có lẽ vì vậy, những lỗi sơ đẳng và có phần... quê mùa của những ca sĩ Việt trên đây không có ở Shadhow in The Dark hay Sun Dance. Nhưng cũng chính vì rất Tây, nên cách xử lý của Arlene Estrella (ca sĩ người Philippines) đặc biệt trong album đầu tiên của dự án (Shadow In The Dark) khá thoáng tới độ người Việt quen với ca khúc gốc còn ngạc nhiên vì khó nhận ra giai điệu quen thuộc trong phiên bản mới. Và cũng vì là người nước ngoài (hoàn toàn không biết tiếng Việt), cô Arlene cũng phải từ chối thể hiện một số bài vì “nhiều chất Việt Nam quá, cô không cảm nhận được”!
Vậy đó, “Tây hóa bài hát Việt” một cách nghiêm túc, xem ra không hề đơn giản. Và đó mới chỉ là những thử nghiệm mở đường. Còn hội nhập thực sự còn là câu chuyện dài kỳ với các nhạc sĩ và ca sĩ Việt Nam.
