Âm nhạc

Một huyền thoại trong thế giới jazz đương đại

27/06/2008 15:37 GMT+7 Google News
(TT&VH Online) - Nhắc đến nhạc sĩ, nghệ sĩ piano Herbie Hancock, nhiều người yêu nhạc jazz ở Việt Nam hẳn còn nhớ họ đã từng bị ông (cùng nghệ sĩ saxophone Wayne Shorter) “thôi miên” như thế nào trong đêm biểu diễn ở Nhà hát Bến Thành (TP. HCM) hồi cuối tháng 11/2005. Nghệ sĩ piano đương đại “nổi tiếng nhất dòng nhạc jazz” này mới được tạp chí Time (Mỹ) bình chọn vào danh sách “100 nhân vật có ảnh hưởng nhất thế giới năm 2008”.
 
 Herbie Hancock trong phòng thu

* Người tiên phong thực hiện “điện tử hóa” nhạc jazz

Khi “River: The Joni Letters” của Hancock đoạt giải Album của năm tại Grammy lần thứ 50 hồi tháng 2 vừa qua, không ít người thốt lên: Làm sao một album nhạc jazz lại có thể giành chiến thắng? Người ta bất ngờ là bởi trong lịch sử Grammy, đây mới là lần thứ hai một album jazz đoạt giải thưởng hàng đầu này. Tuy vậy, cũng cần phải nhắc thêm rằng “River: The Joni Letters” đã có tới 28 tuần đứng vị trí số 1 bảng xếp hạng Billboard ở thể loại jazz đương đại. Năm 1964, “Getz/Gilberto” của Stan Getz và João Gilberto là album “khai sinh” sự hiện diện của nhạc jazz trên đỉnh cao Grammy.

Herbie Hancock (tên đầy đủ là Herbert Jeffrey Hancock) sinh ngày 12/4/1940 tại Chicago (bang Illinois, Mỹ). Từ lúc mới 7 tuổi, Hancock đã được định hướng trở thành một nghệ sĩ piano cổ điển. Năm lên 11 tuổi, Hancock đã có vinh dự cùng Dàn nhạc giao hưởng Chicago trình tấu bản Concerto số 5 cho piano, giọng Rê trưởng của nhạc sĩ thiên tài Mozart.

Hancock trở thành “hiện tượng” âm nhạc ngay từ album đầu tay “Takin’ Off” hồi năm 1963 (trong đó ca khúc “Watermelon Man” trở thành “hit” trên sóng phát thanh). Và ngay thời những năm 1960, Hancock đã được vinh danh là ngôi sao sáng nhất trong ba nghệ sĩ piano có ảnh hưởng nhất của dòng jazz. Hai gương mặt còn lại là Bill Evans và McCoy Tyner.

Hancock bắt đầu con đường thành đạt trên sân khấu nhạc jazz từ khi tham gia ban nhạc “đại ngũ quái thứ hai” của Davis (1963 - 1968). Đối với rất nhiều nhạc sĩ, giới phê bình, cũng như người yêu nhạc, “đại ngũ quái thứ hai” của Davis là một trong những ban nhạc chơi cảm hứng và sáng tạo nhất trong lịch sử nhạc jazz – với Davis chơi trumpet, Hancok “ngồi” piano, Ron Carter chơi bass, Wayne Shorter thổi saxophone, và tay trống Tony Williams. Ban nhạc của Davis đi sâu khai thác sự tương tác giữa hòa âm, nhịp và giai điệu theo một hướng đi riêng, chẳng hề giống các ban nhạc khác cùng thời. Họ cho ra những album mà đến bây giờ vẫn còn chiếm vị trí quan trọng trong lòng người ái mộ nhạc jazz, như “Nefertiti”, “E.S.P.”, “Sorcerer”, “Miles Smiles” hay“Miles In the Sky”.

Và xu hướng post-bop của “đại ngũ quái thứ hai” của Davis đã truyền cảm hứng giúp Hancok tạo ra những album nổi tiếng hợp tác cùng hãng thu âm Blue Note, như “Maiden Voyage”, “Empyrean Isles”, “Speak Like A Child”…, mà “thương hiệu” đặc trưng phải kể đến album “bất hủ” năm 1965 “Maiden Voyage”. Cũng nhờ hợp tác với Miles, Hancock bắt đầu biểu diễn piano điện tử, và sau này ông cùng Joe Zawinul và Chick Corea được ghi nhận là những người khai phá keyboard điện tử trong jazz hồi những năm 1970. Và thời kỳ đầu những năm 1980, Hancock trở thành một trong những nhạc sĩ đầu tiên “vi tính hóa” quá trình sáng tác, thu âm và chào bán ca khúc. Ông khẳng định: “Công nghệ đã mở ra chân trời mới cho âm nhạc. Các nhạc sĩ có thể bán ca khúc ngay trên website cá nhân, các hãng thu âm có thể bán album cho các địa chỉ nhạc trực tuyến như iTunes. Người yêu nhạc nhờ đó có thể mua từng ca khúc và tạo ra album ưa thích của riêng họ”.

* Jazz là… nghề tay trái

Thực ra Hancock không được đào tạo bài bản về jazz, mà chủ yếu bị lôi cuốn bởi các album của Oscar Peterson và Bill Evans. Ban đầu, Hancock theo học sáng tác nhạc, đồng thời theo đuổi giấc mơ trở thành… kỹ sư điện tử tại trường Grinnell College. Hancock sau này thổ lộ: “Khi bắt đầu làm quen với nhạc jazz, tôi chịu nhiều ảnh hưởng từ Oscar Peterson và Bill Evans. Nhưng ngay từ thời điểm đó, tôi cũng đã nhận thấy rằng nhạc jazz cần có hướng đi mới, vừa sáng tạo, vừa phải mơ hồ”.

Không ít người cho rằng chính nghề kỹ sư điện tử đã đem đến cho Hancock kinh nghiệm quý báu ở khía cạnh kết hợp các nhạc cụ điện tử vào dòng jazz. Rời trường Grinnell College năm 1960 khi mà chỉ một học kỳ nữa là được nhận bằng tốt nghiệp, Hancock mất một thời gian ngắn lang thang khắp các câu lạc bộ âm nhạc ở Chicago, rồi tình cờ gặp Donald Byrd và được mời qua New York tham gia ban nhạc của tay kèn trumpet huyền thoại này. Đến năm 1961, Hancock chập chững xuất hiện trước cửa phòng thu của hãng Blue Note với vai trò là nhạc công đệm cho Phil Woods và Oliver Nelson.

Cũng nhờ Blue Note, năm 1963, Hancock phát hành album đầu tiên trong đời. Đó chính là “Takin’ Off”. Ca khúc “Watermelon Man” trong album này trở thành hiện tượng của năm, được giới phê bình hết lời ca ngời, các đài phát thanh đua nhau đưa “Watermelon Man” lên sóng. Xung quanh Hancock bỗng chốc có đông đảo người hâm mộ. Miles Davis muốn tận dụng ánh hào quang này, không để lỡ dịp “dụ dỗ” Hancock về với nhóm của ông. Cuối năm 1963, Hancock chính thức gia nhập “ngũ quái” của Davis; sự cộng tác giữa họ kéo dài tới những năm cuối 1960. Quãng thời gian ấy cũng mang lại cho Hancock nhiều kinh nghiệm quý giá cho quá trình sáng tác sau này.

Sau khi chia tay Davis, Hancock đã trở thành người tiên phong khai phá thể loại jazz-rock thịnh hành ở những năm 1970. Ông thành lập ban nhạc Mwandishi, với Bernie Maupin chơi bộ thổi, Dr. Eddie Henderson chơi trumpet và tay bass Buster Williams. Ban nhạc này ký hợp đồng thu âm với hãng Warner Brother và cho ra khá nhiều album trước khi Hancok quyết định giải tán nhóm, chỉ hợp tác với mình Maupin trong “The Headhunter” phát hành năm 1973. Và “The Headhunter” trở thành một trong những album jazz đầu tiên có lượng tiêu thụ vượt ngưỡng 1 triệu bản. Hancock chia sẻ: “Davis đã tạo cho tôi cơ hội vượt ra ngoài lãnh địa thông thường của jazz. Chính nhờ thế mà tôi có thói quen thích tìm kiếm hướng đi mới cho jazz… Và jazz-rock được khai sinh”.

Herbie Hancock trong đêm trao giải Grammy
lần thứ 50 hồi tháng 2 vừa qua

Đầu những năm 1990, bản “Cantaloupe Island” của Hancock được Us3 chọn là ca khúc “đinh” trong album mà nhóm hip-hop này ra mắt nhãn thu âm Bule Note. “Cantaloupe Island” sau đó trở thành “hit” của Us3. Và rồi hàng loạt nhóm hip-hop khác như Digable Planets, Dee-Lite đua nhau mượn sáng tác của Hancock để gây danh tiếng, như“Bring Down the Birds” đã mang lại thành công vang dội cho đĩa đơn “Groove Is in the Heart” của Dee-Lite.

Với sức sáng tạo dồi dào, Hancock đã 12 lần đăng quang tại giải thưởng danh giá của âm nhạc thế giới – giải Grammy. Ngay đầu năm 2008, ngoài giải Album của năm, “River: The Joni Letters” còn đoạt giải ở thể loại Album jazz đương đại xuất sắc nhất.

Không chỉ Grammy, Hancock còn “có duyên” với giải thưởng điện ảnh danh giá bậc nhất thế giới: giải Oscar năm 1986, ở thể loại Nhạc nền trong Round Midnight, bộ phim mà ông cũng tham gia diễn xuất cùng John McLaughlin (guitar), Freddie Hubbard (trumpet), Dexter Gordon (saxophone) và Bobby Hutcherson (đàn tăng rung).
 
Đăng Linh

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm