
Chào Mozart
Salzburg được ghép bằng từ “Salz”, trong tiếng Đức nghĩa là muối, bởi ở các vùng ngoại ô thành phố hơn 150 nghìn dân này còn nhiều mỏ muối có tuổi đời hàng thế kỉ vẫn tồn tại. Từ sự mặn mà của muối đến sự ngọt ngào của âm nhạc và vẻ đẹp nhẹ nhàng của một đô thị cổ có 2 nghìn năm tuổi nằm sát biên giới Đức gần như chẳng có ranh giới nào. Hai ví dụ tiêu biểu cho cái ranh giới không tồn tại ấy. Về mặt quá khứ: nhạc của Mozart vừa sâu đậm suy tưởng, vừa nồng đượm chất liệu vui tươi của cuộc sống. Về mặt hiện tại: những cô gái Salzburg trẻ trung và bạn gặp trên đường vừa mặn mà, vừa ngọt ngào sâu lắng. Đàn ông Salzburg nhẹ nhàng và tình cảm hơn những người Áo bình thường. Ở Innsbruck, nơi chúng tôi nghỉ một đêm, có câu ngạn ngữ, rằng “Nếu anh là người Tirol, anh là người đàn ông thực thụ”. Ở Salzburg, nếu tất cả đều cơ bắp như những người sơn cước Tirol, làm sao có thể sinh ra một con người có tên Wolfgang Amadeus Mozart?

Nhưng đó không phải là điều tôi quan tâm lắm. Đến Salzburg và nghỉ ở đây 2 đêm trên chặng đường tới Vienna cho những trận quan trọng sắp tới của EURO chính là cách để sống trong một bầu không khí hàn lâm và làm giàu thêm cho vốn kiến thức của mình về thế giới, mà trước hết là về ông, Mozart. Yêu ông từ những bản serenade bất hủ cho đàn violin, trong đó có trích đoạn của “Eine Klein Nacht Musik” tôi vẫn nghe hàng đêm từ một băng cassette được thu từ gần 10 năm trước bởi một con người hết sức uyên bác về âm nhạc trên phố Hàng Khay; yêu ông từ bộ phim về cuộc đời ông do đạo diễn quá cố Milos Forman thực hiện năm 1984 (đã đoạt giải Oscar) và yêu ông từ một truyện ngắn mà nhà văn Nga Paustovski đã viết trong tập “Bình minh mưa”, có tựa đề “Âm nhạc của Mozart”.
Amadeus
Tôi đến đây muộn 2 năm sau lễ kỉ niệm 250 năm ngày sinh của Mozart. Hôm ấy, cả 35 nhà thờ trong thành phố cùng rung chuông vào lúc 8 giờ tối để cùng nhớ đến con người vĩ đại yểu mệnh nhưng đã làm rạng danh Salzburg trên thế giới. Tôi đã nghe tiếng chuông nhà thờ University ở khu phố cổ vang lên vào buổi sáng ngày đặt chân đến. Ở đó, người ta vẫn biểu diễn bản opus “Requiem” (Cầu hồn), tác phẩm cuối cùng (và còn dang dở) của người nhạc sĩ bất hủ, trước khi ông qua đời. Những khúc nhạc bi thảm, những linh hồn hiện ra trong bộ quần áo màu đen, những cái chết, Mozart cầu hồn cho chính ông. Ông thấy người cha quá cố của mình hiện ra trong những bóng ma. Mozart chết năm 1791, vì ốm, vì kiệt sức, vì ánh rực rỡ của ông đã lan tỏa quá sớm và quá sáng đến mức Thượng đế cũng phải ghen tị...
Hình ảnh cuối cùng của phim “Amadeus”: một đám tang bình dân và có phần nhếch nhác diễn ra dưới cơn mưa lạnh của một buổi sáng tháng 12 ở Vienna. Constanze, vợ ông, và con trai ông cùng một vài người thân lặng nhìn đám ma đi. Ngoài họ, không ai biết có một người nhạc sĩ đã để lại biết bao dấu ấn trong lịch sử âm nhạc thế giới đang nằm trong một cỗ quan tài ọp ẹp và cũ nát chỉ dành cho bậc thứ dân. Hơn 2 thế kỉ đã qua, người ta vẫn tôn thờ con người ấy, dàn nhạc giao hưởng của thành phố bên con sông Salzach này vẫn là dàn nhạc chơi Mozart hay nhất thế giới, ngôi nhà nơi đã sinh ra ông vẫn còn đó, nhưng bây giờ, không ai biết thi hài của ông đang nằm ở đâu.
Đi giữa những con phố ở Salzburg, nghe Mozart, tưởng nhớ đến cuộc đời vinh quang nhưng kết thúc bi thảm của ông. Một suy nghĩ chợt đến cho EURO 2008 mà trận đấu cuối cùng ở thành phố này vừa kết thúc đêm trước (trận Tây Ban Nha-Hy Lạp): EURO 2008 đã sinh ra những đội bóng chơi một thứ bóng đá lãng mạn, đã thổi một luồng gió mới lên một giải đấu có những dấu ấn của thứ bóng đá cũ kĩ thủ cựu, hệt như thứ âm nhạc trong trẻo của Mozart đã cuốn phăng thứ âm nhạc cung đình cũ kĩ, chỉ dành cho giới quý tộc ở nửa đầu thế kỉ 18. Họ là Hà Lan, Bồ Đào Nha, Croatia và Tây Ban Nha, những đội bóng đã làm cho EURO lung linh hơn bởi những màn trình diễn tuyệt vời của họ.