(TT&VH Online) - Trong công trình nghiên cứu xuất bản năm 1961, nhà lý luận - phê bình Anh Martin Esslin, người đầu tiên khởi xướng khái niệm “kịch phi lý” và cũng là lý thuyết gia chủ yếu của trào lưu này, xếp Harold Pinter vào loại kịch tác gia phi lý theo khuynh hướng của Eugene Ionesco và Samuel Beckett.
Đây là một hướng phát triển kịch nghệ quan trọng khởi lên từ sau thế chiến II như một phản ứng trước cơn khủng hoảng hậu chiến của nhân loại trên mọi bình diện tinh thần và văn hóa.
Harold Pinter được kể trong số những người kế thừa trào lưu này, cùng với Jean Tardieu, Robert Pinget, Max Frisch, Boris Vian, Edward Albee, Stawomir Mirozek. Harold Pinter sinh ra trong một gia đình Do Thái ở Hackney, một khu kiểu ghetto phía Đông London mà cư dân phần lớn là người lao động trốn chạy khỏi cuộc tàn sát năm 1905 ở Nga. Đó là nơi thường diễn ra những cuộc đụng độ hung bạo giữa người tỵ nạn cũ với lớp nhập cư mới sau Thế chiến I, hoặc người Do Thái trốn chạy bọn quốc xã Hitler, nơi các cuộc biểu tình chống phát-xít nổ ra hầu như thường nhật trong những năm 1930, nơi diễu hành thị uy hung hãn của bọn “sơmi đen” cánh hữu Anh, tạo mối đe dọa thường xuyên với dân Do Thái. Cái dữ dội, căng thẳng và bất an ấy sớm in dấu vào cách nhìn thế giới của Pinter thời niên thiếu, nó cắt nghĩa vì sao các tác phẩm của ông được giới phê bình xếp vào loại “kịch đe dọa” (comedies of menace).
Old Times
Harold Pinter khởi nghiệp sân khấu với tư cách diễn viên. Những năm 1950 đánh dấu mốc quan trọng trong đời sống riêng cũng như sự nghiệp của ông. Năm 1953, Pinter tham gia đoàn kịch cổ điển của Donald Wolfit và ở đó ông gặp Vivien Merchant, nữ diễn viên tài năng sau này thành vợ đầu tiên và người sáng tạo những vai đặc sắc trong nhiều vở kịch mà Pinter là tác giả. Về sau, họ ly dị nhưng công chúng yêu sân khấu vẫn nhớ mãi người diễn viên đã biết nhấn thêm chiều sâu nao lòng cho những quãng lặng của kịch Pinter. Sự nghiệp kịch tác gia của Pinter bắt đầu muộn hơn: Năm 1957, theo yêu cầu của một người bạn, ông viết vở đầu tiên: The Room (Căn phòng). Sẵn đà này, năm ấy, trong khi tiếp tục công việc diễn viên, ông hoàn thành thêm hai vở The Dumb Waiter (Người bồi bàn câm) và The Birthday Party (Buổi tiệc sinh nhật). Năm 1960, chính Pinter đã đạo diễn The Room và The Dumb Waiter ở London.
Đến đầu những năm 1960, Pinter nổi lên như một kịch tác gia hàng đầu với The Caretaker (Nhân viên bảo vệ), The Collection (Bộ sưu tập), The Homecoming (Trở về nhà) v.v...
Từ đó đến nay, ông viết khoảng 50 vở (kể cả kịch truyền thanh và truyền hình), được trao nhiều giải thưởng và danh hiệu cao quý: giải Tony và giải của các nhà phê bình kịch ở Mỹ; giải Shakespeare Hamburg ở Đức; giải thưởng Nhà nước của Áo cho Văn học châu Âu; giải thưởng của Viện Điện ảnh Anh, Huân chương Đế chế Anh và nhiều danh hiệu tiến sĩ danh dự của các trường đại học trên thế giới. Đầu năm 1996, ông nhận giải Oliver đặc biệt cho toàn bộ sự nghiệp sân khấu (tương đương với giải Tony) và tháng 10/2005, đạt đến tột đỉnh vinh quang với giải Nobel Văn học do Viện Hàn lâm Thụy Điển trao tặng.
Trong quá trình sáng tạo của Pinter, Old Times (Thời xa xưa) có thể xem như một cái mốc quan trọng. Được viết vào năm 1971, vở này đánh dấu bước chuyển của Pinter từ “kịch đe dọa” sang hướng khác mà nhiều nhà phê bình gọi là “kịch hồi ức” (memory plays). Pinter luôn nhấn mạnh rằng với ông, hồi ức là một vùng mù mịt sương dăng và những gì đã thật sự xảy ra trong quá khứ không quan trọng bằng phản ứng hiện tại của chúng ta đối với hồi ức về quá khứ ấy. Đó cũng là chủ đề chính của Old Times. Vở kịch vỏn vẹn có 3 nhân vật đều ở tuổi ngoài bốn mươi: Deeley, nhà văn và đạo diễn điện ảnh (Pinter đã sắm vai Deeley trong một lần trình diễn hồi năm 1985); Kate, vợ ông ta; và Anna, bạn cũ của Kate . Vào một đêm mùa Thu, Anna từ Italia trở về thăm Kate sau hai mươi năm xa cách. Toàn bộ cuộc gặp lại tay ba này giống như một sự so đọ những hồi ức không khớp nhau và một cuộc tranh chấp giữa Deeley với Anna xem ai nắm được quá khứ của Kate.
The Homecoming
Pinter đã tóm gọn những gì diễn ra trong vở kịch bằng ba câu hỏi: “Những gì là thật? Hồi ức là gì? Những gì đã thực sự xảy ra?”. Deeley có biết Kate và Anna đã sống chung ở London hai mươi năm trước không? Kate đã xem bộ phim Odd Man Out (Người bị lẻ ra) cùng với ai, nếu như quả thật bà đã từng xem phim đó? Phải chăng ngày xưa Deeley và Anna đã từng “cặp bồ”? Anna và Kate có phải là một cặp tình nhân đồng giới? Cuộc đến thăm của Anna là có thật hay chỉ là một giấc mơ, một hoang tưởng của Deeley? Liệu có thể Kate đã chết và chỉ là một hồi ức? Không ai biết được lời đáp cho những câu hỏi đó - kể cả đạo diễn, diễn viên lẫn khán giả, và càng không phải bản thân tác giả. Pinter kiên quyết bác bỏ ý kiến cho rằng có thể đưa ra giải đáp cho những câu hỏi đó hoặc chúng có thể là đầu mối để hiểu kịch của ông.
Trong cuộc đấu tay ba để xác định quá khứ, cặp liên minh thường xuyên biến đổi, lúc là Deeley-Anna, khi lại là Anna-Kate hoặc Kate-Deeley, và bao giờ cũng có một người bị lẻ ra. Hồi ức trở thành vũ khí. Sự chồng xếp những hồi ức lúc đối nghịch, lúc trùng hợp của Deeley, Anna và Kate cho thấy sự hồi tưởng quá khứ của mỗi chúng ta là xiết bao dị biến. Như Pinter nói: “Thật vô cùng khó khăn, nếu không muốn nói là không thể kiểm chứng được quá khứ, không chỉ quá khứ nhiều năm trước, mà ngay hôm qua, sáng nay thôi. Mỗi khoảnh khắc bị nuốt chửng và bóp méo, thậm chí ngay từ lúc nó bắt đầu. Xiết bao mong manh và dễ đổ vỡ là những cơ sở mà ta dựa vào để cố hiểu kiếp sống của chính mình!”. “Chân lý trong kịch” Pinter nhấn mạnh trong diễn từ nhận giải thưởng Văn học Nobel năm 2005 - “mãi mãi là cái luôn lẩn tránh ta. Anh chẳng bao giờ thật sự tìm thấy nó, nhưng cuộc tìm kiếm đó là điều bắt buộc... Chân lý thật sự là không bao giờ có cái gì gọi là một chân lý duy nhất phải tìm ra trong nghệ thuật kịch...”
Dương Tường