![]() Nhà thơ Thế Mạc |
Tôi cứ nghĩ, suốt cuộc đời, Thế Mạc cứ chầm chậm mà sống như thế, được bạn bè, và lớp hậu sinh xứ Đoài kính trọng như một cụ tiên chỉ của vùng. Là bởi vì Thế Mạc đơn sơ vô cùng, hiền như ông nội, ông ngoại lớp trẻ. Sự đơn sơ, và rộng lượng ấy chỉ có ở những con người cả cuộc đời hướng nội, chỉ nhìn vào chính lòng mình, đào bới những tầng sâu suy tưởng. Tôi nghĩ hình như ông đã tự tu giữa đời, ngay trong căn nhà mặt phố ở số 7 Đốc Ngữ,TX Sơn Tây chẳng khác gì nhà sư thuở trước đã tu trong cái một cái hang núi kín bưng để lâu ngày bóng hình in lõm vào vách đá.
Thế Mạc ở trong cái hang cô độc đối diện với chính lòng mình:
Một mình thôi (HANG) |
Cả cuộc đời ngẫm nghĩ, cả cuộc đời lắng lại để cho tâm tĩnh, nhưng hình như Thế Mạc vẫn chưa hài lòng về độ tĩnh ấy. Chỉ có ông mới nhận thấy con rồng đắp bằng vôi cát, mật mía, hoặc xi măng nhấp nhô trên mái chùa kia, sở dĩ chưa tỉnh giấc bay lên vì:
Vẫn chưa đủ độ tĩnh (RỒNG MƠ) |
Hai câu thơ trên có thể là một bài kệ để tu tập và giác ngộ.
Cuộc đời Thế Mạc hình như ít khi được đi đây đi đó, mà có đi đây đi đó cũng thế thôi, ông có nhìn đâu thì cuối cùng cũng nhìn trở về lòng mình mà thôi. Ông sống nhiều với núi đồi, gò chằm, đầm, hồ, ghềnh thác, đèo, dốc... của vùng xứ Đoài, và in bóng tâm linh một cõi xứ Đoài vào thơ. Ông hóa thân thành ngọn thác mà cũng là để chính nó - ngọn thác - nhập thân vào ông trong một suy tưởng vượt qua giới hạn của cõi đời:
Ta ập xuống nằm tan trong nguyên vẹn (THÁC) |
Đến khi nhập thân vào cây sáo, thì tôi có cảm giác như thơ ông đã trở thành một khúc thánh ca dịu dàng dâng lên đấng sáng tạo:
Khi tôi rời khỏi rừng (SÁO) |
Không có chữ nào khó hiểu, không có ý tứ nào cầu kỳ rắc rối, nghĩa của bài thơ rõ ràng không cần phải diễn nôm: Cây sáo từ khúc trúc chặt ở trên rừng, lòng nó rỗng không, tiếng nó đặc ù; rồi được khoét bảy cái lỗ sáo, và từ đó “em” thổi vào những thanh điệu của sự sống. Những thanh điệu ấy vô cùng vô tận, không bao giờ dứt. Con người và tình yêu trong đời này là như thế, rộng hơn âm dương ngũ hành cũng là như thế mà cái đạo của Lão Trang cũng thế: từ chỗ hỗn độn tối tăm đã sinh ra vô, hữu, và từ đó vạn vật sinh sôi nảy nở.
2. Tập thơ dồn toàn bộ tinh túy của Thế Mạc là tập Hồ, một tập thơ mỏng tang, chừng dăm chục bài, thơ dài ngắn tự do, nhiều chữ cổ, và có vẻ trúc trắc khó hiểu, nhưng ẩn sâu bên trong là chất nhạc ngầm chảy như các bài từ, bài phú thuở xưa (tập thơ in năm 1994, sau đó đoạt giải B Giải thưởng của UBTQ Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam)... Tập thơ đã xác lập Thế Mạc là một giọng trầm mê hoặc, là thứ thơ đọc để ngẫm nghĩ, để sống với những ý tứ trong đó.
Thế Mạc hẳn sinh vào giờ Dần, vì ông có bài thơ với với tiêu đề đó - một bài thơ lần nào đọc tôi cũng rùng mình, như được nhìn thấy chính mình vừa “thác sinh” ra đời từ lòng mẹ:
Lộc nảy đầy cành tháng Ba (GIỜ DẦN) |
Cái sự sinh ra một con người, vẫn biết là thiêng liêng vô cùng, nhưng ở Thế Mạc, đó là sự trở dạ của cả trời đất để ta có mặt giữa đời. Từ trong cái Vô của không - thời gian vô thủy vô chung, trong một khoảnh khắc đã thành cái hữu. Giật mình được xương cốt thịt da.Viết về sự sinh thành, chưa có câu thơ nào lớn lao như vậy.
Giật mình được xương cốt thịt da, giờ đây ông cũng rùng mình một cái để “lìa” xương cốt thịt da cha mẹ ban cho hơn 70 năm về trước, bước vào cõi vĩnh hằng. Cảm giác về cái chết một lần hiếm hoi đã đến với ông trong lần nằm viện. Nằm viện được người ta biếu cam. Thường khi ốm người ta mới ăn chậm và ngẫm nghĩ. Nhưng với Thế Mạc thì lúc nào ông chả chầm chậm và ngẫm nghĩ rồi:
Trừ phi chẳng may (TRONG BÊNH VIÊN) |
Trong suy tưởng của Thế Mạc, cái hạt người quăng đi ấy, lại cựa mình trong một khu rừng vắng để bắt đầu một cuộc đời mới và “Một thời gian sau, một người đang nằm bệnh viện/ Nhận một quả cam có ai mang tặng”.
Hôm nay, trái cam ấy người đã lấy về, sau khi để cho ông sử dụng suốt 75 năm trong cuộc đời. Còn cái hạt? Cái hạt ấy sẽ mọc lên ở đâu đó trong lòng tất cả chúng ta khi cầm tập thơ Hồ hay Nguồn của Thế Mạc...
Nhà thơ Thế Mạc tên thật là Kiều Thể, sinh ngày 1/1/1934, mất hôm 31/ 12/2009 tại Sơn Tây (Hà Nội). Tốt nghiệp khoa Văn khóa 1, Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1959, cùng khóa với GS Phong Lê. Ra trường, ông xung phong đi Tây Bắc, sau đó từng là cán bộ của Viện Nghiên cứu Giáo dục, Viện Giáo dục Dân tộc và cuối cùng về giảng dạy tại Trường THPT Sơn Tây. Tác phẩm chính đã xuất bản: Thơ: Hồ (1994); Nguồn (1998); Thơ - Thế Mạc, Trường ca Núi Tỏ, Phùng Hưng đánh hổ, Đồi Hổ Gầm... cùng nhiều tác phẩm văn xuôi và phê bình văn học. Ông đoạt Giải thưởng báo Văn nghệ năm 1960, Giải thưởng UBTQ Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, 1994, Giải thưởng VHNT Nguyễn Trãi lần thứ Nhất và thứ Hai, |
