Đọc - Xem

Jean-Louis Fournier: Nhà văn ăn khách hàng đầu nước Pháp

16/01/2009 17:03 GMT+7 Google News

(TT&VH Cuối tuần) - Xen kẽ giữa hai cuốn Ritournelle De La Faim (đói khát khôn thôi - NXB Gallimard) của Jean-Marie Gustave Le Clezio, giải Nobel 2008 (1), và Syngué Sabour - Pierre De Patience (Syngué Sabour - hòn đá thần - NXB P.O.L.), giải Goncourt, của Atiq Rahimi (2), là Où On Va, Papa? (mình đi đâu hả ba? - NXB Stock) của Jean-Louis Fournier, đứng hàng thứ nhì trong ba tác phẩm bán chạy nhất vào mùa gặt hái văn học năm nay ở Pháp. Bộ ba này, về lượng độc giả, bỏ xa mấy tác phẩm của một số tên tuổi nổi tiếng ít nhiều giả tạo nhờ biết cách tự xưng tụng, như Christine Angot (Le Marché Ses Amants - chợ tình), Catherine Millet (Jour De Souffrance - đau thương ngày ấy) hay Michel Houellebecq và Bernard-Henri Levy (Ennemis Publics - kẻ thù chung) đã được “đánh trống rao hàng” rùm beng nhưng kết quả thảm hại, lỗ vốn (3).

Tập thư Mình đi đâu hả ba? của Jean - Louis Fournier xếp hạng trong trio gagnant (bộ ba ăn khách đứng đầu) quý IV/2008, hệt như tập nhật ký Carnets D’Un Vieil Amoureux (Sổ tay của một kẻ tình si già đời - NXB Philippe Rey) của Marcel Mathiot (4), cũng gây bất ngờ chẳng kém.

Thư cho con

Bức thư khai mào: “Các con Mathieu và Thomas yêu dấu, hồi các con còn nhỏ, ba thường có ý định, vào mùa Giáng sinh, mua cho các con mỗi đứa một cuốn sách, loại truyện Tintin chẳng hạn. Để ba cha con mình bàn tán với nhau cho vui. Ba đã đọc đi đọc lại nhiều lần truyện Tintin, nên biết rõ lắm. Nhưng chẳng có khi nào ba tặng sách cho các con cả. Nghĩ rằng là thậm vô ích, vì các con đâu có biết đọc. Chẳng bao giờ biết đọc”. Tintin là loại truyện tranh dễ hiểu, nét vẽ rõ rệt, “dành cho độc giả từ 7 đến 77 tuổi”.

Dưới dạng một bức thư gửi cho Mathieu và Thomas, Jean-Louis Fournier trần thuật cuộc sống hàng ngày trông nom, săn sóc hai đứa con bẩm sinh khuyết tật, èo uột, đần độn, ra đời da thịt mềm nhũn “với một cọng rơm trong đầu” và “chẳng bao giờ biết đọc”. Không một lời trực tiếp than thân trách phận, họa chăng chỉ có những tiếng cười não nuột trước cuộc đời phi lý mà mình đang gánh chịu. Nhất là qua cử chỉ và động tác thường nhật của Mathieu và Thomas - đứa con út hầu như không hề mở miệng thốt nên lời, ngoại trừ câu hỏi lặp đi lặp lại mỗi lần ngồi sau ghế lái xe: “Mình đi đâu hả ba?”. Trong tình cảnh mẹ chúng trốn nhà đi “vui đùa nơi khác” mà cha chúng chẳng một lời trách cứ và đứa em gái Marie bình thường như mọi trẻ xung quanh nhưng ông không hề lấy cớ so đo.

Tác giả không cho phép mình chìm ngập triền miên trong bi kịch riêng tư: “Tôi ghét thói cầu xin người ta nhỏ lệ vì mình, thế nên bao giờ cũng tránh giọng lâm ly thống thiết”. Có con cái khuyết tật bẩm sinh, thân xác còi cọc, đầu óc không được Thượng đế ban cho khả năng nhận thức, ông nghĩ đó đâu phải điều xấu xa, tủi hổ. Nhưng đấy lại là điều mà cha mẹ thường hay bưng bít, giấu giếm, không muốn trưng ra trước mắt mọi người. Chính vì vậy và cũng do không thể tặng sách cho con nên ông quyết định thảo bức thư này: “Để các con khỏi bị bỏ quên và không chỉ là tấm hình ghim trên thẻ khuyết tật; để viết trên giấy trắng mực đen những điều thầm nghĩ mà ba chưa từng thổ lộ cùng ai và nhất là để xin lỗi các con đã ra đời không được vuông tròn”.

Bức thư dài 156 trang được tác giả viết với một giọng văn dí dỏm, hài hước nhưng ý nhị, né tránh mọi thể hiện ủy mị. Ông luôn cố “nhoẻn một nụ cười mỗi lần nhắc tới các con”, dẫu là loại buồn vui dở khóc dở cười. Mỗi câu chuyện kể trong các chương ngắn gọn là một hoạt cảnh hóm hỉnh, kín đáo biểu thị tấm lòng của người cha đối với “mes enfants cabossés”, hai đứa con bất hạnh “bị trời hành” của mình.

“Mình đi đâu hả ba?”

“Bất hạnh, bị trời hành, nhưng lại được cái là khỏi phải như ba, cả ngày đầu tắt mặt tối, mà mỗi độ Hè về cứ mải chọn lựa chỗ nghỉ mát sao cho da dẻ các con rám nắng, bớt xanh xao”. Và tác giả không quên tỏ lời tri ân: “Nhờ các con mà ba có nhiều lợi thế hơn những bậc cha mẹ có con cái bình thường như đại đa số. Ba khỏi phải lo lắng về chuyện học hành cũng như nghề nghiệp tương lai của các con. Ba khỏi phải phân vân trong việc chọn lớp, văn chương hay khoa học, cho các con. Ba cũng khỏi phải nghĩ ngợi xem các con sau này sẽ làm ăn cách nào. Cũng nhờ các con mà ba được miễn phí trước bạ, nên chọn mua toàn loại xe hơi vừa tân kỳ, vừa bóng bẩy khỏi phải đóng thuế... Trước đây chẳng bao lâu, ba lôi Mathieu đi mổ để nắn lại sống lưng quẹo quọ của nó, rồi chỉ ba ngày sau, nó nằm thẳng đuột trên giường, tắt thở”. Còn lại Thomas thì hễ mở miệng là hỏi hoài hỏi hủy : “Mình đi đâu hả ba?”.

Câu hỏi tưởng chừng ngây ngô và ngớ ngẩn của Thomas thật ra lại là luận đề nền móng của triết học. “Tóm tắt mọi sự”, để nhại theo tác giả. Ta từ đâu đến, làm gì, đi đâu, và quan hệ con người với thế cuộc, với hiểu biết của mình. Câu hỏi không ngớt xuất hiện trên trang sách như một cuộc thẩm vấn dai dẳng, đòi đối tượng phải lên tiếng trả lời. Bức thư người cha gởi cho hai đứa con khuyết tật đưa đến lời giải đáp mà chúng ta chờ đợi: Con người chẳng là gì cả, nhưng đồng thời cũng vô cùng hữu sự.

GIẢI THƯỞNG FEMINA

Giải thưởng văn học này được sáng lập vào năm 1904, với toàn bộ thành viên của Hội đồng bình xét đều là các nữ nhà văn lừng danh. Giải Femina 2008 đã được công bố ngày 3/11 năm ngoái: Người đoạt giải là nhà văn best-seller Jean-Louis Fournier (70 tuổi) với tác phẩm Mình đi đâu hả ba?.
Là một nhân vật nổi tiếng, năng động, tài ba, được công chúng nhìn nhận (giải Liên hoan phim nghệ thuật Paris 1975, giải Liên hoan phim y học quốc tế Deauville 1981; tác giả bốn văn phẩm - trong đó có một thiên tiểu thuyết, một biếm văn và một tập ký ức, tất cả đều được giới phê bình khen ngợi và độc giả ưa thích chẳng thua gì bức thư vừa đoạt giải Femina nàyvà nhiều chương trình truyền hình thu hút đông đảo khán giả), Jean-Louis Fournier bỗng dưng phải đối mặt với cảnh ngộ cực kỳ nghiệt ngã. Điều đó khiến ông ngộ ra rằng mình chẳng là gì, kiến thức, tài năng và thành tích cống hiến cho đời chả cứu vãn được gì; rằng mình chỉ như hạt bụi tý ty, đợt sóng bạc đầu, lóe sáng thoáng qua trên mặt địa cầu.

Tác phẩm Mình đi đâu hả ba? là lời tự thú chân thành, kín đáo và khiêm nhường về sự thể đó của một con người đang trải nghiệm giới hạn của mình. Đằng sau tấm màn che khuất thảm kịch cá nhân là cả một định mệnh, kiếp người.

Nghị lực

Chúng ta đọc/học được điều gì trong tập sách? Rằng con người phải nhớ tới giới hạn của mình trên cõi đời này, rằng kiến thức, tài năng, thành tích không ngăn được số phận. Nhưng đồng thời, qua cách xử thế của tác giả trước vận hạn nghiệt ngã, tập sách cung cấp cho chúng ta một thứ nghị lực đặc thù để vượt qua hoạn nạn.

Một tác phẩm súc tích, đầy ý nghĩa, rất đáng để đặt thêm vào tủ sách của mình.
 
Trần Thiện Đạo


 

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm