(TT&VH) - Làm thế nào để bảo tồn và phát huy tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và thờ Hùng Vương trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa, là chủ đề chính của cuộc Hội thảo quốc tế Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong xã hội đương đại - nghiên cứu trường hợp tín ngưỡng thờ Hùng Vương ở Việt Nam vừa diễn ra hôm qua, 13/4, tại Phú Thọ.
130 tham luận của đông đảo các chuyên gia trong và ngoài nước được trình bày tại Hội thảo (dù mỗi người chỉ được trình bày 5 phút) đã tập trung thảo luận và xem xét tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên như một giá trị văn hóa ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Bên cạnh đó, Hội thảo đã đi sâu xem xét về tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và những vấn đề liên quan đến bảo tồn và phát huy tín ngưỡng này trong xã hội đương đại.
Thăng hoa từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Từ góc nhìn địa - văn hóa, địa - chính trị, PGS-TS Nguyễn Chí Bền, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, cho rằng: Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ là kết quả của quá trình biến đổi, lắng đọng các lớp “phù sa” văn hóa - tín ngưỡng khác nhau, để trên lát cắt đồng đại, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là tín ngưỡng thờ cúng thủy tổ của dân tộc, quốc gia, không phải chỉ của người Việt nơi châu thổ Bắc Bộ, mà của người Việt ở Trung Bộ, Nam Bộ, một số cộng đồng người Việt ở nước ngoài; là tín ngưỡng phát triển giữa hai chiều lực tác động: thái độ của các vương triều và thái độ của dân chúng trong lịch sử; kết quả của quá trình lịch sử hóa và huyền thoại hóa đan xen một cách hài hòa; kết quả của quá trình hội tụ và lan tỏa, lan tỏa và hội tụ.
Hội thảo về Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
Các triều đại Lý - Trần, đặc biệt thời Hậu Lê và Nguyễn, xuất phát từ nhu cầu quy tụ lòng người, cố kết cộng đồng quốc gia dân tộc mà triều đình phong kiến đã có sắc phong cho các đình, đền thờ Hùng Vương, pháp điển hóa các nghi thức thờ cúng và cấp ruộng đất cho dân các làng xã xung quanh đền Hùng canh tác lấy hoa lợi để coi sóc đền thờ, thực hành nghi lễ thờ cúng Hùng Vương từ quy mô làng xã của một tỉnh thành quốc giỗ với nghi thức quốc gia. Ý chí của người đứng đầu các vương triều phù hợp với lòng dân, đáp ứng đúng nhu cầu lịch sử đặt ra nên có được sự đồng thuận lớn trong xã hội. Theo đó, Hùng Vương nghiễm nhiên trở thành vị “Tổ khai sáng” và tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương cũng trở thành đỉnh cao của tín ngưỡng thờ tổ tiên - một biểu tượng văn hóa được người dân ở khắp mọi miền đất nước tin theo, hưởng ứng ngày giỗ Tổ mùng 10 tháng 3 Âm lịch hàng năm.
Khác với các nước châu Á khác như Hàn Quốc, Nhật Bản, họ cũng thờ tổ tiên, nhưng chỉ có ở hoàng gia chứ không liên quan đến tiền nhân khai sáng ra nước Văn Lang như Hùng Vương. Chỉ cần so sánh như vậy đủ để thấy rằng, tín ngưỡng thờ cũng tổ tiên ở Việt Nam mà “đỉnh cao” là tín ngưỡng thờ Hùng Vương ở Việt Nam chứa đựng nhiều giá trị văn hóa, lịch sử, đáp ứng đủ 5 tiêu chí, yêu cầu của UNESCO...
Cộng đồng quyết định sự tồn tại của di sản
Hồ sơ Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương có được ghi vào “bảng vàng” di sản văn hóa phi vật thể nhân loại hay không thì sang năm mới có kết quả. Cái cần biết và cần làm ngay lúc này là vấn đề phải bảo tồn, phát huy di sản này như thế nào trong xã hội đương đại và bối cảnh toàn cầu hóa như ngày nay cũng được các nhà khoa học thảo luận sôi nổi.
TS Lê Thị Minh Lý, Phó Cục trưởng Cục Di sản (Bộ VH,TT&DL) bày tỏ quan điểm: Theo phân loại của Công ước 2003 của UNESCO, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương thuộc loại hình di sản “tập quán xã hội, nghi lễ và lễ hội”. Đó là những hoạt động thường xuyên của một cộng đồng hay nhóm người cùng tham gia thực hành tạo nên cơ cấu cuộc sống hàng ngày của họ. Các hoạt động này có ý nghĩa quan trọng vì chúng khẳng định bản sắc của cộng đồng hay nhóm người đó và xã hội liên quan.
TS Lê Minh Lý (phải) trao đổi cùng GS-TS Lưu Trần Tiêu tại hội thảo
Để phục hồi, duy trì và bảo tồn bền vững di sản này trong cuộc sống hôm nay, trước hết cần nhận dạng một cách đầy đủ các yếu tố của di sản một cách khoa học. Cần kiểm kê với sự tham gia của cộng đồng và kết quả của kiểm kê là kế hoạch và biện pháp bảo vệ do cộng đồng xây dựng với sự hiểu biết đầy đủ.
Vừa qua, Bộ VH,TT&DL đã ban hành Thông tư về việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể, lập hồ sơ khoa học để đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đây chính là cơ sở pháp lý để bảo vệ di sản Tín ngưỡng thờ Hùng Vương.
Tiếp theo, một số không gian văn hóa liên quan đến thực hành tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương sẽ được tôn tạo, một số thực hành đã từng có mà nay bị mai một sẽ được nghiên cứu để từng bước phục hồi. Quan trọng hơn cả là các tập quán, nghi lễ và lễ hội sẽ được thực hành thường xuyên hơn, với sự hiểu biết đầy đủ hơn.
Kết quả kiểm kê, tư liệu hóa tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, theo bà Lý cần được phát huy thông qua các biện pháp đa dạng nhằm các thông tin đó tiếp cận với cộng đồng để họ nhận thức được giá trị di sản của họ, giúp họ duy trì thực hành. Điều này đặc biệt có ý nghĩa cần thiết đối với thế hệ trẻ. Chương trình truyền hình, Internet và các phương tiện truyền thông khác là công cụ hữu hiệu để thực hiện bảo vệ di sản. Cần sáng tạo cách tiếp cận di sản theo cách nghĩ và cách làm của giới trẻ. Điều quan trọng là sự trao truyền các tập quán xã hội, nghi lễ và lễ hội này phải được diễn ra một cách chủ động và có kết quả thực sự. Thông qua đó sẽ tạo ra những giá trị lịch sử bền vững cho di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương.
Phạm Hoa Quỳnh