Một thập kỷ văn hóa Việt Nam Bính Dần qua, Tân Mão tới. Như thông lệ hàng năm, những cuộc bình chọn các sự kiện tiêu biểu trên các lĩnh vực của Việt Nam cũng như của thế giới lại diễn ra sôi nổi khắp nơi. Nhưng dường như không nhiều người nhớ ra rằng, chúng ta đã bước qua một thập kỷ quan trọng, thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21. Và nếu như đánh giá lại một quãng thời gian vừa trải qua là một nhu cầu mang tính tự thân của con người, thì chúng ta không phải chỉ ngoái lại để đánh giá vẻn vẹn có 365 ngày như mọi năm, mà cả 3.650 ngày. Giờ đây với Internet, quá dễ dàng để chúng ta tìm lại quá khứ. Quá dễ dàng để chúng ta đọc lại những dòng đã viết ra từ năm 2000 và trước đó - tràn ngập những cảm xúc và tưởng tượng về thế kỷ 21 và thiên niên kỷ thứ 2 này. Còn nhớ báo TT&VH khi đó (cuối năm 1999) đã mở chuyên mục đếm ngược đến năm 2000 mang tên “Còn… tuần nữa là đến năm 2000”. TT&VH cũng như rất nhiều bạn đọc của báo, đã cùng các chuyên gia trên các lĩnh vực hình dung về cuộc sống, văn hóa và nghệ thuật của thế kỷ 21 sẽ ra sao? Thắm thoắt một thập kỷ đã qua. Thế kỷ 21 của thế giới cũng như của Việt Nam không giống như giấc mơ ta mơ về nó trước năm 2000. Trừ là năm của “sự cố Y2K” và những đồn đoán ngày tận thế, năm 2000 với ba số 0 rất đẹp cũng chỉ là một trong chuỗi năm tháng dằng dặc của con người và vũ trụ. Và thập kỷ mà nó mở ra trên lĩnh vực văn học nghệ thuật cũng không nhiều thành tựu hơn những thập kỷ trước đó, chưa kể dường như còn có vẻ mờ nhạt. Trong Thi nhân Việt Nam, khi tổng kết thơ mới (1930 - 1945, mà thực ra là chỉ đến 1943), Hoài Thanh - Hoài Chân đã hân hoan rằng: “Một năm của ta bằng ba mươi năm của người”. Những cây đại thụ về văn học, nghệ thuật đã xuất hiện trong một thập kỷ rưỡi đó, nhưng điều đó không lặp lại ở thập kỷ đầu của thế kỷ 21 này. Năm 2000 là năm niềm kiêu hãnh phố cổ Hà Nội lên tới đỉnh cao. Đến năm 2003 - 2004, cảm thấy sự chậm chạp trong hành trình tôn tạo phố cổ, trong một cuộc hội thảo, nhà sử học Dương Trung Quốc đã sốt ruột kêu lên, chúng ta đã đi được 1/3 chặng đường đến cái đích Đại lễ Nghìn năm rồi đó. Nhớ lại câu nói đó, mới thấu hiểu 6 - 7 năm sau người ta phải sốt ruột đến thế nào. Và giờ đây, Đại lễ Nghìn năm đã qua, hiện trạng phố cổ vẫn không cải thiện là mấy so với năm 2000. Có một điều đáng kể nữa, là vào thời điểm trước và sau năm 2000, có rất nhiều quy hoạch tổng thể các lĩnh vực được đưa ra, với tầm nhìn đến năm 2010, hoặc 2020; nhưng đến năm 2010, cũng là năm có con số rất đẹp, lại rất ít thấy những quy hoạch tương tự được đưa ra, được điều chỉnh hoặc được tổng kết lại… Bước vào thập kỷ mới, hãy cùng TT&VH từ các góc nhìn khác nhau để ôn lại thập kỷ qua. TT&VH
(TT&VH) - Thập kỷ đầu tiên của thế kỷ trước (1900 - 1909), nền văn hóa Việt Nam biến động dữ dội như chính xã hội và chính trị lúc bấy giờ. Xu hướng phương Tây được áp đặt và thống trị trong giáo dục của người Pháp ở các thành thị, còn nông thôn vẫn mù mịt cho đến hơn nửa thế kỷ sau. Trí thức Việt Nam lúc đó biết dùng văn hóa hiện đại vào việc canh tân đất nước trong những phạm vi nhất định, nên có thể nói, nền văn hóa hiện đại có khuynh hướng dân chủ và dân tộc đã hình thành, cùng với một nền văn học nghệ thuật mới có ảnh hưởng đến văn hóa xã hội Việt Nam đến tận cuối thế kỷ.
“Bút ký” nghệ thuật của Phan Cẩm Thượng
1. Thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 này, sự biến động văn hóa có vẻ lặp lại như trước, trong hoàn cảnh đất nước đi vào nền kinh tế thị trường, mang một màu sắc hoàn toàn khác, đầy những lo âu, nhất là sự suy thoái về đạo đức bởi các tệ nạn xã hội được bình thường hóa trong đời sống hàng ngày, nhất là sự tranh đoạt hiển nhiên của cơ chế thị trường; nạn quà cáp, phong bì, tham nhũng như là một thứ bôi trơn các hoạt động kinh tế và xã hội. Văn nghệ sĩ và trí thức nói chung không còn là những người nhập cuộc như đầu thế kỷ trước, mà một phần tham gia vào hoạt động kinh doanh ở các mức độ cho phép thị trường hóa nghệ thuật, một phần ngâm vịnh ba lăng nhăng, còn lại đứng ngoài cuộc chê trách những tiêu cực xã hội. Sự bộc lộ các quan điểm cá nhân, lối sống cá nhân - trong đó phô diễn đời sống ái tình được coi như một thủ pháp nghệ thuật, các trình diễn giật gân tràn lan trong văn hóa.

Nhiều người quan tâm đến hệ lụy của văn hóa 10 năm qua sẽ có tác động không tốt đến thế hệ trẻ, những truyền thống nhân ái và tế nhị của văn hóa Việt Nam, muốn tìm ra nguyên nhân của từng phần và tổng thể.
Đầu thế kỷ và cuối thế kỷ, hoàn cảnh là hoàn toàn khác nhau. Mục tiêu của đầu là độc lập dân tộc, mục tiêu của cuối là phát triển kinh tế, hai cái đó đòi hỏi những hy sinh khác nhau, mà người ta tưởng là làm ăn trong hòa bình thì chỉ là rất vui vẻ, không chết người như chiến tranh. Trên thực tế thì chết chóc vì tai nạn giao thông, bệnh tật nặng, và thanh toán nhau do mâu thuẫn cũng khốc liệt không kém. Vấn đề chủ quyền, tự cường dân tộc cũng đặt ra khi vay nợ nhiều, cho thuê mướn đất, và vấn đề Biển Đông. Tính chất phát triển dân tộc cũng hoàn toàn khác với một thế giới mở, tưởng là bình đẳng nhưng không hề, nếu không giành được các vị trí kinh tế trọng yếu. Tính chất mở cũng làm cho nội hàm văn hóa thay đổi mạnh mẽ. Học thuật Việt Nam nhiều khi không đủ đào tạo một cán bộ, một công nhân trong một văn phòng quốc tế, một nhà máy liên doanh, chất lượng con người chưa thích ứng với tổ chức của xã hội đông dân có nhu cầu hiện đại hóa.
2. Văn hóa đại để gồm hai phần rõ ràng, phần thượng tầng nó bao gồm cái tam giác triết học - nghệ thuật - tôn giáo, phần hạ tầng là đạo đức - ứng xử xã hội - hội lễ cộng đồng. Từng mặt một đều có quan hệ với những mặt còn lại, cái này là nguyên nhân, cái kia là hệ quả, cứ thế mà tạo ra nền văn hóa nào đó. Không có nền văn hóa của dân tộc nào được gọi là thấp, dù chỉ là một bộ lạc, mà chỉ có nền kỹ nghệ cao thấp của các nền văn hóa khác nhau, nhưng những giai đoạn văn hóa suy đồi, làm tụt dốc một dân tộc là luôn có thật. Khi một nền văn hóa tụt dốc thì hai cái tam giác kia rất lỏng lẻo và đảo ngược các giá trị nội tại. Ví dụ triết học mờ mịt, tôn giáo mê muội, nghệ thuật đồi trụy là một cách tụt dốc. Đương nhiên bao giờ cũng có sự cố gắng khắc phục của từng phần đó là bản chất nhân văn của văn hóa.Cái bản lĩnh dân tộc rõ ràng phai nhạt trong nghệ thuật Đương đại, không chỉ nó học đòi sâu hơn nền nghệ thuật phương Tây đương thời, mà cả nền nghệ thuật Trung Quốc, vốn đang dị ứng với một số người Việt. Trong nghệ thuật đang có cái thùng đựng nước thải cơm thừa của rất nhiều nghệ thuật nước ngoài du nhập vào Việt Nam, kể cả phần kinh phí tài trợ. Người phương Tây coi đó là những biểu hiện ngoại vi của văn hóa theo mô hình phương Tây, khi khả năng tự lựa chọn và xây dựng phong cách riêng rất yếu.
10 năm qua có thể nói các nhà văn trẻ, các nghệ sĩ trẻ đã chiếm lĩnh trường văn nghệ, dù các tiền bối cố giữ cái ghế hội đồng nào đó, nhưng không còn sáng tác được nữa, cũng không hiểu các ngôn ngữ nghệ thuật mới, có phải là nghệ thuật hay không. Mấu chốt phần chính là nghệ thuật không chuyển được vào cơ chế thị trường, không thành một phần quan trọng trong thị trường văn hóa, và lạc lõng trước một dân tộc đông đúc người không quan tâm đến văn nghệ đương đại.
Văn hóa không thể nào chỉ là trà dư tửu hậu của kinh tế, mà chính kinh tế phải là khí huyết của văn hóa xã hội. Văn hóa nghệ thuật không phải là một thứ không có cũng được, làm sau cũng được, mà rất cụ thể là vỏ bọc lên mọi sản phẩm được sản xuất, là nội dung sử dụng và cách sử dụng của con người. Tầm vóc của một công ty bao gồm vốn, cộng với phương thức sản xuất và vai trò văn hóa của nó trong thị trường. Cái vai trò văn hóa ấy buộc nó không thuế, không phá hoại môi trường, không làm hàng giả, không đàn áp công nhân. Nếu không có vai trò văn hóa, đương nhiên công ty kinh doanh theo kiểu chủ nghĩa tư bản sơ khai.
Nhà phê bình Phan Cẩm Thượng trong thời gian ở chùa Bút Tháp sáng tác và nghiền ngẫm viết Nghệ thuật ngày thường

Sự quản lý văn hóa cũng được mở rộng theo quá trình xã hội hóa này, và vô hình trung vẫn có một hoạt động mà Nhà nước vẫn bao cấp, như tượng đài, phim kỷ niệm, triển lãm mỹ thuật toàn quốc, nhưng ít hiệu quả nghệ thuật, chạy song song với nghệ thuật xã hội hóa, đặc biệt là các triển lãm của giới mỹ thuật, nhà văn nhà thơ tự bỏ tiền in, xuất bản trên các blog cá nhân, Facebook, trên Internet nói chung, trên cơ sở tự điều chỉnh với quy chế văn hóa.
Hội họa là nghệ thuật duy nhất đại diện cho văn nghệ thời Đổi mới ra nước ngoài, cùng chút văn học dịch, nhưng sau 10 năm phần lớn bị thị trường đánh bẹp chất lượng nghệ thuật. Sau 10 năm khó khăn, các nghệ thuật tìm đường đi cho mình trong khán giả nước nhà, như âm nhạc, văn học, điêu khắc, các nghệ thuật mới như trình diễn, sắp đặt, video art… Có nhiều hoạt động hoàn toàn phi thương mại, và cũng không thể tìm được thị trường, như sắp đặt, trình diễn, văn học trên mạng… thế nhưng nó vẫn phát triển mạnh mẽ, kéo theo một thế hệ trẻ đông đúc, chứng tỏ vai trò của văn hóa là cần thiết và nội tại, bất kể nghệ sĩ không thu được đồng nào từ tác phẩm của mình, nếu không nói là may mắn không gặp phiền toái. Các nghệ sĩ thị giác trẻ đã lập riêng một trang web Soi.com.vn để viết về nghệ thuật theo cách của mình, không có nhuận bút, không ai chịu trách nhiệm về ai cả.
Một số cuộc trùng tu di tích cổ đã nhấn chìm hoàn toàn các di sản vào lớp xi măng mới, bởi người ta không trùng tu mà làm mới, nên mới có chuyện biến di tích 500 năm thành di tích 1 tuổi. Những người cai quản những ngôi đền chùa cổ góp phần tân trang cho các di sản biến mất thêm lần nữa, tượng Phật bị tô vẽ lòe loẹt, tượng Quan âm trắng đứng khắp nơi trong các chùa cổ Bắc bộ, sàn chùa được lát đá hoa, các tòa ngang dãy dọc hoành tráng cũng nhiều như sự dị đoan. Nhà dân, khách sạn, khu công nghiệp tiến đến sát các di tích, văn hóa làng xã cổ truyền biến thành văn hóa tiểu thị trấn, tiểu đô thị. Nhân dân không dùng đến văn nghệ của các nghệ sĩ nước nhà, mà xem phim tình Hàn Quốc, phim cổ trang Trung Quốc. Các bộ phận văn hóa hoạt động riêng lẻ thiếu những liên kết chuyên ngành và quan hệ giữa nghệ sĩ các giới.
Bản quyền là vấn đề mới khi nghệ thuật đi vào thị trường, khi trước đây người ta tự do dùng tác phẩm của nghệ sĩ mà chỉ trả một lần nhuận bút. Nghệ thuật nào kinh doanh được thì có sự vi phạm bản quyền ở đó. Hội họa lại đi đầu, các họa sĩ tự chép tranh của mình thành nhiều bản, gallery, nhà sưu tập cũng thế, đến Bảo tàng Mỹ thuật cũng đầy tranh chép, chưa kể các cửa hàng công khai chép tranh kinh doanh trong, ngoài nước bán giá rẻ. Âm nhạc lại có cách vi phạm bản quyền khác, người ta biểu diễn trên sáng tác của một nhạc sĩ mà không trả cho nhạc sĩ ấy mỗi lần, rồi sang băng đĩa lậu. Các nhà nghiên cứu, nhà văn có tác phẩm bán chạy cũng vậy, một tác phẩm có tiếng lập tức hàng đống sách lậu in ra, chất lượng thấp hơn một chút. Tùy theo mỗi một ngành nghệ thuật mà cách vi phạm khác nhau. Nghệ sĩ, nhà xuất bản chịu thiệt, tức là cơ hội phát triển văn hóa, và thị trường văn hóa mất đi, ai viết chuyện hay, nghiên cứu sâu sắc thì coi như biếu không cho xã hội. Khu vực nghiên cứu sa sút nguyên nhân một phần như vậy. Nhưng chính cái này đã phản ánh văn hóa nghệ thuật hoàn toàn có thể thoát thai bao cấp, bước vào thị trường, nếu thị trường ấy lành mạnh, cơ hội phát triển văn hóa nội địa cũng có. Văn nghệ sĩ có thể sống bằng lao động nghệ thuật, thậm chí giàu có, bởi số tiền chính đáng mất đi không nhỏ. Bản quyền được đảm bảo thì Nhà nước bớt tiền bao cấp văn nghệ, tính chuyên nghiệp được đẩy cao, thêm một bước nữa đẩy nghệ thuật Việt Nam vào trường nghệ thuật thế giới, thay vì chỉ giới hạn trong giới thiệu văn hóa.
4. Internet thực sự là một môi trường văn hóa mới, và ngược lại cũng có thể dẫn đến sự phi văn hóa. Tính hai mặt của nó chưa được biết đến khi người ta đã sử dụng phổ biến. Internet đẩy lui, chiếm chỗ bưu điện, thư viết tay, báo chí, sách vở, làm cho người ta học hỏi nhanh chóng nhiều kiến thức nhân loại, và ngược lại cũng trở nên lười nhác khi không học gì mà tra cứu trên đó. Chắc chắn có cả một thế hệ sống và biến đổi theo Internet, nên ở phương Tây đã có trào lưu từ chối Internet. 10 năm cuối thế kỷ trước là bước đi chập chững của văn hóa nghệ thuật vào thị trường, 10 năm làm quen với Internet. Nhưng 10 năm đầu thế kỷ, nước ta đã có đầy rẫy những hacker giỏi, bởi người Việt có tố chất tò mò, khéo tay và thích đập phá. Thông tin là phần chuyển tải văn hóa và chuyển tải tất thảy hoạt động xã hội dưới dạng ảo, nhưng đã trở nên mỏng manh trước virus máy tính và hacker. Thế giới ảo là cái có thật trong một bộ phận thanh niên, rồi họ cũng bước ra đường với các ảo tưởng thu nhận từ máy tính.
Tiếng Anh và nghệ thuật hậu hiện đại, hậu công nghiệp chi phối văn hóa Việt thường nhật. Graffiti trong đám nghệ sĩ đường phố, hip-hop, nhạc Jazz với thanh niên được chấp nhận như lòng hâm mộ văn hóa Mỹ. Đời sống tình dục và ăn nhậu trở nên thái quá như là sự phản hồi những năm khổ hạnh trong chiến tranh.
Rất nhiều thứ là kết quả của toàn cầu hóa đối với Việt Nam và của sự thiếu chuẩn bị khi bước vào kinh tế thị trường. Song một lần nữa chính văn hóa mới có thể cân bằng lại xã hội, hỗ trợ những khiếm khuyết tinh thần. Các gia đình tốn kém không ít tiền cho đời sống tinh thần và thẩm mỹ, như nhà đẹp, đồ tốt, con cái học hành cao, phương tiện kỹ thuật hiện đại, nhưng lại chưa thấy văn hóa cao xuất hiện ở đâu trong các phương tiện đó, mà kết quả là nhiều tiền thì xa hoa, phù phiếm, chứ không mấy bình an. Với dân tộc cả thế kỷ này đã được đặt ra chỉ bởi 10 năm đầu tiên.