Văn hoá

Về 2 bộ kinh đồng chùa Bút Tháp

10/07/2009 10:18 GMT+7 Google News
(TT&VH) - Ngày 7/7 vừa qua, Sở VH-TT&DL cùng Bảo tàng Bắc Ninh đã làm lễ trao trả hai bộ kinh đồng cho chùa Bút Tháp, với sự chứng kiến của các đồng chí lãnh đạo huyện Thuận Thành và xã Đình Tổ, thôn Bút Tháp và nhân dân địa phương. Chúng tôi gồm đại đức Thích Thanh Đông trụ trì chùa và họa sĩ Phan Cẩm Thượng đã nhận lại hai bộ kinh đồng và tôn trí trở lại ngọn tháp Tôn Đức, cũng đồng thời kết thúc việc tu sửa.

Tháp Tôn Đức trong quá trình tu sửa. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn
1. Trong nhiều năm qua, ngọn tháp đá Tôn Đức từng bị quân Pháp bắn đại bác hư hỏng, sau đó lại bị một cây bồ đề lớn mọc bên trong đội cả ngọn tháp lên, có nguy cơ sụp đổ. Chúng tôi đã tiến hành tu sửa chủ yếu để dỡ cái cây đi, nhưng đến ngày 17 tháng 2, bất ngờ phát hiện hai bộ kinh đồng trong lòng tháp. Là hai cổ vật quý hiếm có thể nói duy nhất ở tỉnh Bắc Ninh, chúng tôi đã báo cho Cục Di sản Văn hóa, Bộ VH-TT&DL và cơ quan văn hóa Bắc Ninh. Sau đó Bảo tàng và Sở VH-TT&D Bắc Ninh đã thu nhận hai cuốn kinh đồng về tỉnh để tiến hành làm bản sao hai bộ kinh mới cũng y như vậy, rồi trao trả lại nhà chùa vào ngày 7 tháng 7 năm 2009.

Việc làm bản sao cũng gặp nhiều khó khăn, do loại lá đồng chuyên khắc sách không có, thợ khắc không ai biết chữ Hán, và cũng chưa từng làm việc tương tự. Nhưng cuối cùng công việc cùng hoàn thành với sự cố gắng của cả thợ khắc lẫn những cán bộ Bắc Ninh biết Hán văn.

2. Thiền sư Minh Hành người Trung Hoa, cùng thầy mình là thiền sư Chuyết Chuyết, du ngoạn truyền đạo sang Việt Nam vào những năm 1630. Hai ông từng trụ trì chùa Phật Tích, rồi những năm 1640, khi bà hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc rời cung vua, xây dựng chùa Bút Tháp, hai ông kiêm nhiệm luôn cả về Phật pháp lẫn cố vấn thiết kế. Sau khi Chuyết công hòa thượng viên tịch, được xây tháp đá nổi tiếng Báo Nghiêm để tưởng niệm, sư Minh Hành thay thế, là vị tổ thứ hai của chùa. Năm 1659, Minh Hành Thiền sư viên tịch. Tháp đá Tôn Đức được xây cho ông, đến năm 1660 thì hoàn thành. Bà hoàng Trịnh Thị Ngọc Trúc và các đệ tử của Sư cho khắc hai bộ kinh đồng đặt trong lòng tháp, lưu tặng người về Niết Bàn. Người xưa gọi việc này là Thiết quán.

Một trang của quyển Đại phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn
Hai bộ kinh này được đặt trong một cái hộp xây bằng đá và vôi nung từ đá trầm tích dưới biển rất chắc chắn và tạo ra lớp bụi vôi chống ẩm trắng. Xung quanh sách được đặt những cuốn sách giấy nay đã mủn và vón thành cục. Hai cuốn kinh, là Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm kinh với 24 lá đồng, gồm 47 trang khắc chữ và Kim cương kinh, với 33 lá đồng, gồm 63 trang khắc chữ, ngoài bọc lụa gấm hoa xanh cũng đã mủn dính vào đồng, kích thước đều 14,4cm x 25cm. Kèm theo một chiếc trâm đồng lật sách đã gẫy. Về nội dung, chúng ta có thể tìm thấy Kinh Hoa nghiêm Kinh Kim cương tương tự đã dịch ra tiếng Việt trong kinh sách hiện nay, tuy nhiên bộ Kinh Kim cương ở đây là đầy đủ, còn do Kinh Hoa nghiêm vốn là bộ kinh tạng đồ sộ, nên trong kinh đồng chỉ trích một vài đoạn thôi. Việc trả lại ngọn tháp hai bộ kinh là nhu cầu tâm linh của nhân dân, nhưng dưới góc độ nghiên cứu khảo cổ, ông Lê Viết Nga, Giám đốc bảo tàng Bắc Ninh, cho rằng nếu có thể giữ ít nhất vài trang cũ, thay mấy trang mới, làm hiện vật gốc nghiên cứu, thì hay biết bao, nhưng ông cũng vẫn hoan hỷ mà trân trọng giao lại cho chúng tôi không thiếu thứ gì, kể cả chiếc khăn mà tôi đem bọc Kinh cùng cái mâm nhôm.

Trang đầu và cuối của cuốn Kinh Kim cương có đoạn: Giáo thụ sư ma ha tỳ kheo Minh Hành Tại Công thượng tặng phong. Minh Việt thành đẳng chính giác đại đức Thiền sư hóa thân Bồ tát. Đại Ưu bà di chính cung Hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc, đạo hiệu Pháp Tính. Vĩnh Thọ tam niên, canh tý trọng đông cốc nhật lập. Và Vĩnh Thọ tam niên, canh tý trọng đông san tả. Bỉnh thụ đại giới tỳ kheo ni Diệu Tuệ Thiện Thiện quả duyên trùng san. Nghĩa là: Phong tặng Giáo thụ sư Ma ha tỳ kheo tên là Minh Hành Tại Tại, là Minh Việt thành đẳng chính giác đại đức Thiền sư hóa thân Bồ tát. Bậc tu hành là chính cung Hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc đạo hiệu là Pháp Tính lập tháp, tặng kinh vào ngày lành, mùa đông, năm Canh tý, niên hiệu Vĩnh Thọ thứ ba (1660). Bỉnh thụ đại giới tỳ kheo ni là kẻ vô duyên Diệu Tuệ Thiện Thiện trùng san. Cũng năm đó viết chữ và san khắc.

Trang đầu và cuối cuốn kinh Nam vô Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm kinh có đoạn: Đệ tử chính cung Hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc đạo hiệu Pháp Tính. Vĩnh Thọ tam niên, canh tý trọng đông cốc nhật. Và Bỉnh thụ đại giới tỳ kheo ni Diệu Tuệ, pháp hiệu Thiện Thiện tạo Phật. Đệ tử sa di Chân Trí, Chân Nguyên, Chân Lượng, Chân Phúc cẩn mộc kính thư phụng khắc. Đoạn này đại khái cũng như trên, chỉ thêm bốn đệ tử sa di là Chân Trí, Chân Nguyên, Chân Lượng, Chân Phúc kính cẩn tắm gội, phụng mệnh viết chữ và khắc kinh.

3. Do trước đây có nhiều nhà báo thắc mắc về công việc tu sửa của chúng tôi, nên tôi cũng giải thích thêm như sau:


Chuẩn bị đóng gói lại hai bản kinh trước khi đưa về vị trí cũ ở trên tháp Tôn Đức

Do nền đất ruộng nhão lún, không thể dùng dàn giáo sắt, nên chúng tôi dùng dàn giáo gỗ và tre là an toàn nhất. Quá trình làm chúng tôi chỉ dỡ hai mặt một tầng trên ngọn tháp, sau đó chui vào trong xử lý cái cây. Lòng tháp vốn được lấp đặc đá và đất, nên lúc moi ra đào rễ cây có ngổn ngang không sạch sẽ. Lúc lắp lại và gắn kết, tôi đã chuẩn bị vôi và mật mía theo phương pháp cổ truyền, nhưng khảo cứu kỹ móng tháp, tôi thấy do nền đất không chắc lại từng bị lung lay do đạn pháo, chắc chắn sẽ phải đại trùng tu sau khoảng 30 năm tới. Nếu dùng vôi mật thì lúc tháo ra trong tương lai sẽ làm vỡ các viên đá, do chất liệu đó quá vững chắc, nên chúng tôi quyết định dùng xi măng tốt làm kết dính vài hàng mạch, để thuận cho việc tháo dỡ sau này.

Tôi cũng đã báo cáo về phần kỹ thuật này với cơ quan văn hóa Bắc Ninh. Nếu có một trang web nào sẵn sàng đăng tải toàn bộ vài trăm hình ảnh của công việc và hai bộ kinh (tất cả các trang), chúng tôi sẵn sàng gửi đến để công chúng được biết kỹ lưỡng.

Phan Cẩm Thượng

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm