Văn hoá

Để Việt Nam tự hiểu đúng mình

08/12/2008 14:09 GMT+7 Google News
(TT&VH) - Một trong những vấn đề nổi cộm được đặt ra trong cuộc hội thảo Việt Nam học là tình trạng “lạm phát” chuyên ngành Việt Nam học tại Việt Nam như một chuyên ngành thời thượng, khi có tới hơn 70 cơ sở đào tạo tổ chức cho sinh viên theo học chuyên ngành này.
 

Ngành “Việt Nam học” bùng nổ

Kể từ sau khi Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần đầu được tổ chức năm 1994, ngành Việt Nam học bắt đầu dậy lên “như nấm sau mưa” tại các cơ sở đào tạo. Bắt đầu bằng bộ môn Việt Nam học tại một số ngành đào tạo, khoa Việt Nam học đầu tiên (với chức năng đào tạo cử nhân chuyên ngành Việt Nam học) ra đời năm 2005 tại ĐH Sư phạm Hà Nội. Tiếp đó, những khoa Việt Nam học khác cũng liên tiếp ra đời tại các trường ĐH Quốc Gia Hà Nội và TP.HCM, ĐH Hà Nội, ĐH Sài Gòn, ĐH Huế, ĐH Sư phạm 2. Tính đến giờ, trên cả nước đã có hơn 70 trường đào tạo chuyên ngành Việt Nam học hoặc có bộ môn Việt Nam học, trong số này có không ít trường dân lập như ĐH Đông Đô, ĐH Thăng Long (Hà Nội), ĐH Hồng Đức (Thanh Hóa), ĐH Chu Văn An (Hưng Yên).
 
Trường ĐH Hà Nội là một trong những cơ sở đào tạo chuyên
ngành Việt Nam học ( Ảnh chỉ có tính minh họa)

Và tất nhiên, với sự đa dạng như vậy thì chương trình đào tạo Việt Nam học tại các cơ sở cũng rất khác biệt. Theo thống kê sơ bộ của Viện khoa học xã hội VN, trong số này có chừng 20% cơ sở đào tạo theo đúng chương trình biên soạn của Bộ GD&ĐT, 7 % tự soạn giáo trình, hơn 70% còn lại thì… chỉnh sửa chương trình của Bộ để phù hợp với điều kiện của mình. Thậm chí, rất nhiều môn học trong ngành Việt Nam học được “dùng tạm” giáo trình của chuyên ngành khác.
 
Bất cập của việc chạy theo phong trào

Khá nhiều đại biểu đã nhắc tới mặt tiêu cực của việc “bùng nổ” chuyên ngành này. Nói như lời TS Phạm Thu Nga (ĐH Sài Gòn): “Chương trình đào tạo khá bất cập: có nơi quá tả, có nơi quá hữu. Tùy người lập chương trình, ai mạnh về ngôn ngữ thì sẽ có chương trình Việt Nam học nặng về ngôn ngữ, ai chuyên về sử sẽ làm ra Việt Nam học nặng về sử, lại có chương trình Việt Nam học chuyên để dạy cho người nước ngoài, học rất nhiều Việt ngữ, được đem áp dụng cho sinh viên VN, trong khi họ cần học nhiều ngoại ngữ hơn là học tiếng Việt”.

Còn theo các số liệu thống kê về 450 sinh viên từng tốt nghiệp chuyên ngành này (được đại diện ĐH Đà Lạt đưa ra): có 30 % làm việc… hành chính tại các cơ quan đoàn thể, 20% làm giáo viên, một số đông còn lại làm báo, du lịch, tiếp thị… Chỉ có một phần nhỏ trong số họ làm việc tại các bảo tàng hoặc làm công việc sưu tầm văn hóa dân gian - nghĩa là ít nhiều phù hợp với chuyên môn đào tạo của ngành học này.

PGS Trần Lê Bảo (ĐH Sư phạm Hà Nội) bức xúc: Nhiều cơ sở chưa nắm được nguyên tắc của ngành Việt Nam học nhưng vẫn mở. Có nơi do yêu cầu mở rộng quy mô nên mở mã ngành Việt Nam học để chiêu sinh. Có nơi phải mở để tồn tại, vì những ngành cũ không hấp dẫn sinh viên. Số trường này phần đông là dạy Việt Nam học kiêm du lịch. Thậm chí, nhiều trường chẳng nghiên cứu gì nhiều, nhưng trường khác mở ngành Việt Nam học thì ta cũng phải mở.

Bài toán riêng trong bài toán chung

Đừng biến VN học thành ngành… Du lịch học

“ Hiện tại, rất nhiều cơ sở đào tạo ngành VN học nhưng dạy theo chương trình ngành du lịch, hướng dẫn viên du lịch, ngoại ngữ du lịch. Trong khi đó, nhiệm vụ đầu tiên của mã ngành Việt Nam học là trang bị những kiến thức toàn diện về đất nước con người Việt Nam, cho người học, thông qua những hiểu biết về địa lý, lịch sử, văn hoá, ngôn ngữ, phong tục tập quán, tín ngưỡng... Liệu các trường nấp dưới mã ngành Việt Nam học lại đào tạo du lịch, ngôn ngữ du lịch, có đáp ứng được yêu cầu trên không? Một chuyên ngành du lịch không thể nào trang bị được toàn diện kiến thức về đất nước và con người Việt Nam. Rõ ràng ở đây mã ngành Việt Nam học chỉ là chiếc áo khoác đẹp cho ngành du lịch đang là “món hàng thời thượng” hiện nay”. (PGS Trần Lê Bảo)
Điều được các đại biểu trong Hội thảo hướng tới vẫn là câu hỏi: làm sao để việc đào tạo cử nhân Việt Nam học đi đúng hướng, với mục đích thúc đẩy phát triển chuyên ngành Việt Nam học tại VN. Nhưng dường như càng bàn, mọi chuyện càng sa vào cái khó chung của cả một hệ thống giáo dục, từ chuyện đầu vào - đầu ra, cho tới chuyện giáo trình và năng lực sẵn có của học viên.

Chẳng hạn, ngay từ chuyện “đầu vào- đầu ra”, bà Phạm Thu Nga cho biết: Trường chúng tôi (ĐH Sài Gòn) có mã ngành là Việt Nam học nhưng phải mở thêm ngoặc là (Văn hóa du lịch) để thu hút đầu vào. Như vậy, đến người học cũng lẫn lộn, người dạy cũng ưu tư, sinh viên đã theo học nhưng vẫn khó có thể hình dung về vấn đề nghề nghiệp cụ thể, mưu sinh trong tương lai. Và thực tế đáng buồn cho thấy: nhiều em sinh viên xuất thân từ những vùng sâu, nông thôn, tỉnh lẻ… không có điều kiện và thực lực thi vào những ngành, trường khác nên đành nhân việc tuyển sinh rộng rãi ở các trường mới mở ngành Việt Nam học để “tá túc”.

Hoặc, về giáo trình đào tạo, PGS Cao Thế Trinh (ĐH Đà Lạt) thắc mắc: bản thân khái niệm Việt Nam học cũng rất rộng, bao gồm địa lý, lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa, du lịch,… nói tóm lại là nghiên cứu toàn diện về đất nước con người Việt Nam. Nhiều nơi vẫn xem Việt Nam học chỉ là phép cộng của “một tý Văn”, “một tý Sử”, “một tý Địa”… và cử nhân Việt Nam học cái gì cũng biết loáng thoáng, nhưng không có cái gì thật sự sâu sắc. Vậy chúng ta cần xác định đối tượng chủ yếu của Việt Nam học là gì? Chẳng hạn, nếu hướng tới văn hóa VN thì phải học các môn cơ sở như Đại cương về Văn hóa học, các môn chuyên ngành như Đại cương về văn hóa Việt Nam, Tiến trình văn hóa Việt Nam, Các vùng văn hóa Việt Nam, Phong tục tập quán Việt Nam. Từ đó rồi mới tính đến việc so sánh và trang bị các kiến thức về Văn minh thế giới, Văn hóa Trung Quốc, Văn hóa Ấn Độ, Văn hóa Đông Nam Á… cho sinh viên để đối chiếu.
 
Cần quy hoạch lại mạng lưới đào tạo “Việt Nam học”

Đặt bài toán riêng của ngành Việt Nam học trong bài toán chung về giáo dục VN, một nhận xét được đa số các đại biểu đưa ra: nên mở một cuộc khảo sát, đánh giá chuẩn xác để nhận định quan hệ cung cầu thật trong mã ngành đào tạo này. Để rồi, từ đó các chuyên gia giáo dục mới tiến hành rà soát, quy hoạch sắp xếp lại mạng lưới đào tạo mã ngành Việt Nam học, chỉ cho phép cơ sở đào tạo nào đáp ứng được những điều kiện, tiêu chí, khả năng tổ chức…thì mới mới được đào tạo, tránh tình trạng các trường, các viện đào tạo tràn lan như hiện nay.

Lo lắng của TS Phạm Văn Chiến (ĐH Thăng Long) là có cơ sở: tình hình cung cầu trong ngành Việt Nam học hiện nay là “ảo” và không đúng thực chất. Nếu chúng ta không xác định được điều ấy, cứ vin vào cơ chế thị trường để đào tạo thì ngành học này rất dễ đến lúc bị “teo đi”...

Cúc Đường

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm