Văn hoá

Có thể sáng tạo nhân vật lịch sử đến đâu?

30/10/2008 07:01 GMT+7 Google News
(TT&VH Cuối tuần) - Với mỗi tác phẩm (văn học, sân khấu, điện ảnh...) có chủ đề lịch sử, với nhân vật lịch sử có thật, để tạo được các hiệu ứng tích cực đối với công chúng, việc giải quyết mâu thuẫn giữa cái nhìn chủ quan của cá nhân tác giả trong sáng tạo và giá trị lịch sử đã được cộng đồng ghi nhận là như thế nào? TT&VH Cuối tuần trò chuyện cùng PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái, NPB văn học Phạm Xuân Nguyên và ông Đoàn Minh Tuấn - Phó tổng biên tập tạp chí Thế giới điện ảnh.

* Có yêu cầu hay tiêu chí chung nào cho việc sáng tác các nhân vật trong lịch sử không, thưa ông, bà?
 
Phạm Xuân Nguyên
- NPB. Phạm Xuân Nguyên: Tôi thích nhất câu nói của một nhà sử học: “lịch sử là một phòng tranh, trong đó nguyên bản chỉ có một còn phiên bản thì có nhiều.” Có nghĩa là một hiện tượng lịch sử, một sự kiện lịch sử, một nhân vật lịch sử thì có thật, chỉ xảy ra một lần duy nhất nhưng khi con người tìm cách mô tả, thể hiện, đánh giá thì nó biến thiên. Ngay đối với một hiện tượng, sự kiện, nhân vật lịch sử thì chính các sử gia cũng có nhiều cách nhìn nhận khác nhau. Nếu sử học là sự mô tả, đánh giá các nhân vật lịch sử thì văn học là sự ức đoán về họ.

- Ông Đoàn Minh Tuấn: Lịch sử cũng như nhân vật lịch sử có hai mặt. Một mặt, thuộc về các nhà nghiên cứu nhân vật lịch sử thuần túy, mặt kia, là của các nghệ sĩ hư cấu sáng tạo trên cơ sở nhân vật lịch sử này. Việc hư cấu về nhân vật lịch sử ở từng thời điểm xã hội có cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau. Tư tưởng sáng tạo làm sao đáp ứng được yêu cầu thị hiếu của công chúng thời họ đang sống. Nhân vật lịch sử không phải bất biến mà là sinh động, sống trong nhiều góc độ khác nhau và sáng tạo vô hạn. Như là làm một bộ phim về Nguyễn Trãi. Con đường Nguyễn Trãi đi từ Thăng Long đến Lam Sơn để đến với Lê Lợi đã gặp những khó khăn, vật cản gì và ông đã vượt qua chúng ra sao. Muốn làm được thì phải nghiên cứu lịch sử tương ứng với giai đoạn này, nhưng những tình huống xảy ra trên đường đi của Nguyễn Trãi thì có thể làm được nhiều tập phim.


 Một cảnh trong vở Rừng trúc
- PGS. TS Nguyễn Thị Minh Thái: Bạn đang đụng đến vấn đề đã đặt ra từ thế kỉ trước cho giới sân khấu khi đối diện với đề tài lịch sử trong tác phẩm sân khấu, về mọi phương diện sáng tạo: người viết kịch lịch sử, người đạo diễn dàn dựng kịch lịch sử, người diễn viên sắm vai nhân vật lịch sử và cả họa sĩ, nhạc sĩ nữa, họ đều phải thiết kế và viết nhạc cho vở diễn lịch sử. Họ đã làm những công việc sáng tạo này với nhiều tâm huyết, nên nhiều nhân vật lịch sử đã được đưa lên sân khấu thành công: Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Bùi Thị Xuân, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Dương Vân Nga, Mai Hắc Đế, Lý Chiêu Hoàng, Trần Cảnh, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Liễu, Trần Quốc Toản, Quang Trung,… và sau này là một loạt tướng lĩnh, những vị anh hùng của hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ, đặc biệt là hình tượng cụ Hồ…Tất nhiên, song song với nhân vật chính diện này là sự tương ứng các nhân vật phản diện, với tư cách đối sánh, để tạo lập xung đột, đẩy đến cao trào, gây tính kịch thật căng thẳng. Nhiều tác giả viết kịch, đạo diễn, diễn viên thành danh là nhờ thành công từ viết kịch, dựng vở diễn, vào vai các nhân vật lịch sử…

Vì thế, có thể thấy tiêu chí sáng tạo của giới sân khấu với đề tài lịch sử có thể thu gọn vào hai chuẩn: kịch bản đặt vấn đề lịch sử mang chở được ý nghĩa lớn, tác động rất mạnh đến tâm thế của xã hội hiện đại, thông qua các nhân vật lịch sử chân thật, thuyết phục bằng bản lĩnh lớn, gây cho người xem những tình cảm lớn, thanh lọc tâm hồn, khi thưởng thức vở diễn.

Hoàn toàn hữu lý, khi còn sống, đạo diễn NSND Nguyễn Đình Nghi quả quyết : ông chỉ nhận dàn dựng kịch bản lịch sử khi hội đủ hai điều kiện nghệ thuật: Vấn đề của kịch bản phải có sức nặng lịch sử-xã hội, và nhân vật kịch phải có bản lĩnh! Và nếu sân khấu hiện đại Việt càng về thập kỉ cuối TK XX có khá nhiều vở diễn lịch sử mờ nhạt, chẳng qua là do thiếu vắng hai phẩm chất ấy. Theo tôi, đây là tiêu chí sáng tạo không chỉ của riêng Nguyễn Đình Nghi, mà đã thành nguyên lý chung của sân khấu, nhất là trong hai thập kỷ vàng của sân khấu Việt hiện đại: những năm 80, 90 thế kỉ trước.


Nguyễn Thị Minh Thái

* Vậy thưa bà Minh Thái, những thành công nào về vở diễn đã “đảm bảo bằng vàng” cho những tiêu chí, những nguyên lý này, khi chúng được thực tế sân khấu chứng minh?

    - PGS. TS Nguyễn Thị Minh Thái: Tôi đưa ra so sánh gần nhất. Việc để dở dang chuyện làm phim Lý Công Uẩn vừa rồi là ví dụ về sự không giải quyết nổi từ trong kịch bản phim vấn đề hư cấu nghệ thuật và sự thật lịch sử của vị vua đầu triều nhà Lý, với tinh thần khai sáng đối với kinh thành Thăng Long.Vấn đề này chi phối các công đoạn tiếp theo và việc làm phim đã trở nên bất khả thi. Trong khi đó, các nhà sân khấu đã từng “đau đầu” về vấn đề kịch lịch sử từ lâu và từ lâu đã phải tìm cách hóa giải vấn đề này.

Khi dựng kịch Rừng trúc của Nguyễn Đình Thi, viết về vương triều cuối, chấm dứt vai trò lịch sử  nhà Lý, Lý Chiêu Hoàng, vị vua phụ nữ duy nhất, và cuối chót của nhà Lý, buộc phải nhường ngôi cho nhà Trần bởi mưu soán ngôi của Trần Thủ Độ, cũng đã xảy ra một sự kiện về xử lý nghệ thuật giữa “sự thật lịch sử” và hư cấu. Nguyễn Đình Thi, nhà văn, Nguyễn Đình Nghi đạo diễn và Lê Khanh, nghệ sĩ sắm vai Lý Chiêu Hoàng đều phải nghĩ đến sự hài hòa khi xử lý. Kết quả, để giữ được ý tưởng nghệ thuật- lịch sử gửi gắm trong văn bản kịch Rừng trúc, Nguyễn Đình Thi  đã mất hơn 20 năm chờ đợi, và thật sự hài lòng, khi ý tưởng đó được chuyển hóa thành ngôn ngữ dàn dựng cực kì chuyên nghiệp của Nguyễn Đình Nghi và ngôn ngữ biểu diễn sang trọng tinh tế, biểu cảm của dàn diễn viên NH Tuổi Trẻ, tiêu biểu là Lê Khanh vai Lý Chiêu Hoàng. Cũng tương tự, một vở kịch khác được dựng thành công trên sân khấu NH Kịch VN, cũng của Nguyễn Đình Thi, do Nguyễn Đình Nghi đạo diễn, vở Nguyễn Trãi ở Đông Quan. Người sắm vai Nguyễn Trãi là một thành công bất ngờ nhất về nghệ thuật sắm vai chính kịch, lại chính là ông vua hài Trần Tiến…

Do vậy, tôi thích nhất Nguyễn Đình Nghi, khi ông viết : Động vào lịch sử, không thể khinh suất! Và tôi cũng hoàn toàn thích, khi ông kết luận: Đề tài lịch sử đòi hỏi một sự tiếp cận có văn hóa, có suy nghĩ, có hiểu biết. Và chỉ có thể tạo ra những tác phẩm sân khấu đề tài lịch sử có giá trị trên nền tảng sự hiểu biết sâu sắc không chỉ riêng về lịch sử mà cả về hiện tại. Đòi hỏi này có khả năng thúc đẩy sự nâng cao chất lượng mà sân khấu ta nói chung đang rất thiếu, vì nó buộc người làm sân khấu phải chống lại sự cẩu thả đã thành thói quen lâu nay! Và ông thêm, chí lý: Có lẽ vì những ưu thế đặc biệt của nó, mà đề tài lịch sử có sức hấp dẫn mạnh mẽ người làm sân khấu, và ở nhiều nước trên thế giới. Một nền kịch bản về lịch sử dân tộc thường là cơ sở cho một nền sân khấu dân tộc…Nhìn nhận lại một cách tổng thể, sân khấu ta vẫn chưa thành công trong việc xây dựng một hệ thống tác phẩm mà nếu làm tốt, sẽ là một tập đại thành thể hiện nhận thức, tri thức, tình cảm của chúng ta đối với lịch sử dựng nước và giữ nước của tổ tiên. Tôi nghĩ rằng đây là một món nợ đối với lịch sử mà sân khấu phải trả…


* Ông bà nghĩ sao khi sự thật về nhân vật lịch sử này trên thực tế vẫn còn có những phần không đầy đủ hoặc chưa xác minh được tính chân thực?

- NPB. Phạm Xuân Nguyên: Khi chọn một nhân vật lịch sử để mô tả thì bản thân phần có thật được ghi lại trong các bộ sử. Ở đây, nếu nói về sự trung thành đối với lịch sử thì cần phải xác định việc căn cứ vào bộ sử nào. Nguyên do là vẫn một nhân vật lịch sử nhưng lại thể hiện theo sự chủ quan của từng nhà sử học. Nên nhớ, không có lịch sử chung chung.

Theo tôi, có 3 hướng: Một là phục hiện lịch sử, nghĩa là cố gắng văn chương hóa theo đúng khuynh hướng lịch sử. Hướng này hư cấu ít; Hai là tái hiện lịch sử, có phần thêm thắt, hư cấu. Hướng này sự hư cấu được nâng lên; Ba là đồng hiện lịch sử - lịch sử dưới lăng kính hiện tại. Hướng này hư cấu mạnh. Tác phẩm Hồ Quý Ly của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh là đồng hiện lịch sử. Thời đại nhà Hồ cùng các cải cách lịch sử không được lòng dân là có thật, tuy nhiên, tác giả sử dụng các yếu tố này để soi chiếu vào lăng kính hiện tại: những vấn đề cải cách, đổi mới hiện nay.


 Đoàn Minh Tuấn
- Ông Đoàn Minh Tuấn: Về sự thật lịch sử, điều mà chúng ta vẫn phải nhắc lại “Không có vẻ đẹp nào sánh bằng vẻ đẹp của sự thật”. Là sự thật thì không nên né tránh. Sự thật dù vùi lấp như thế nào thì cũng có ngày hiển lộ. Dù ở thời đại nào, chúng ta cũng nên khai thác, đối xử với sự thật một cách có văn hóa, không chỉ cho chúng ta hôm nay mà còn cả sau này. Nghệ sĩ phải có tài năng, có tầm văn hóa để làm sao sự thật có thô tháp thì người xem vẫn chấp nhận được. Cái mà chúng ta yếu là do chúng ta quen che giấu sự thật dù sự thật như một vết thương. Chỉ có tính khoan dung của dân tộc mới chữa lành được vết thương đó.

* Vậy việc giải quyết mâu thuẫn giữa cái nhìn chủ quan của cá nhân tác giả và giá trị lịch sử đã được cộng đồng ghi nhận qua mỗi tác phẩm là như thế nào?

- Ông Đoàn Minh Tuấn: Phải có suy nghĩ mới về vấn đề cũ nhằm làm cho chúng trở nên sinh động. Bản chất sáng tạo của nghệ sĩ là khai thác nhân vật lịch sử ở những góc độ mới, đưa đến khán giả cái nhìn mới. Giá trị sự thật lịch sử là một hạt giống được gieo trên nền đất của một lĩnh vực nghệ thuật nào đó, nghệ sĩ phải sử dụng mọi ngón kỹ thuật, kỹ xảo nghề nghiệp để chăm sóc, vun trồng hạt giống này sao cho trở thành một cái cây có thân cành hoa lá tươi đẹp. Vẫn là bản chất sự thật lịch sử, nhưng được khoác lên vẻ đẹp của sáng tạo nghệ thuật.

- NPB. Phạm Xuân Nguyên: Những điều chúng ta nói ở trên là theo giá trị lịch sử đã được cộng đồng ghi nhận. Nghĩa là trong khuôn khổ thuận chiều. Nhưng trong tác phẩm văn học, có những ức đoán có thể nghịch chiều. Nghịch chiều hợp lý là khi các tình huống mà tác giả đưa ra phải phù hợp với logic lịch sử. Ngược chiều phản cảm là nói cho sướng, phi logic nghệ thuật. Lịch sử như một chất liệu, đề tài mà khoảng sáng tạo của nhà văn là những khoảng tối, khoảng mờ của lịch sử và con người của lịch sử. Trong các bộ sử chỉ ghi chép lại năm tháng, sự kiện chứ không tái hiện con người lịch sử. Văn học làm sinh động thêm lịch sử và cũng bằng cách đó, văn học lý giải lịch sử.

Khi nhân vật lịch sử bước vào các tác phẩm văn học cũng là lúc nhân vật lịch sử trở thành nhân vật văn học như là Nguyễn Trãi, Nguyễn Du hay Nguyễn Bỉnh Khiêm. Và những nhân vật này chịu hai tác động: giá trị lịch sử và giá trị văn học.

 * Xin cảm ơn ông, bà.

Việt Quỳnh

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm