(TT&VH) - Đêm mùng 7 rạng sáng ngày 8/3/1966, chiếc máy bay An-2, số hiệu 670 của Trung đoàn Không quân 919 sau khi thực hiện phi vụ công kích tàu biệt kích địch ở khu vực biển Thanh Hoá trên đường quay vào bờ thì bị thương phải hạ cánh khẩn cấp xuống bãi biển xã Quảng Vinh, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá. Ngay khi tiếp đất, tổ bay đã được nhân dân kịp thời băng bó cứu chữa cho phi công bị thương, chiếc máy bay thì được nguỵ trang kín đáo để che mắt máy bay địch.
Ngày hôm sau, Quân chủng Phòng không-Không quân đã cử các cán bộ vào sửa chữa chiếc máy bay, sau đó được sự hợp sức của nhân dân địa phương đưa ván ra lát thành đường băng, chiếc máy bay đã cất cánh trở về căn cứ an toàn.
Tổ bay 4 người hôm đó sau này tham gia các trận đánh khác đã lần lượt hy sinh, chỉ còn duy nhất nhân viên cơ giới trên không Loan Thế Linh còn sống. Hoà bình lập lại ông chuyển sang bay hàng không dân dụng, rồi là trợ lý hậu cần Cục Hàng không, đến năm 1990 thì nghỉ hưu. 46 năm sau sự kiện nói trên, ông Loan Thế Linh đã trở lại Quảng Vinh để gặp lại những dân đã từng một thời cưu mang che chở cho mình.
Cuộc tấn công bằng máy bay vận tải
Ông Loan Thế Linh hiện sống tại khu tập thể Nhà máy Thuốc lá Thăng Long, năm nay đã 76 tuổi nhưng còn rất khoẻ mạnh và minh mẫn. Qua ông Linh, chúng tôi được biết chiếc máy bay An-2, số hiệu 670 hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Hàng không ở số 196, phố Nguyễn Sơn, quận Long Biên (Hà Nội).
Khi nhắc lại kỷ niệm này, ông Linh ứa nước mắt: “Bao năm tôi cứ trăn trở muốn vào trong ấy để gặp lại và tri ân tấm lòng của người dân Thanh Hoá nói chung và nhân dân Quảng Vinh nói riêng, nhưng vì điều kiện gia đình và công tác nên chưa thực hiện được”. Và lần này ông đã quyết định về thăm lại chiến trường xưa.
|
Người phi công duy nhất còn sống của tổ bay 670 Loan Thế Linh vui mừng khi gặp lại ông Lê Quang Nhiều. |
Tháng Tư, trở lại Quảng Vinh, đoạn quốc lộ 1 từ Ninh Bình vào Thanh Hoá hiện đang sửa chữa nên lắm ổ gà và khói bụi, trên xe ông Linh say sưa kể lại câu chuyện 46 năm về trước. Ông kể, lúc đó chúng ta chưa có máy bay tiêm kích, nên cấp trên quyết định cải tiến máy bay vận tải thành máy bay cường kích. Theo đó những chiếc An-2 được lắp thêm 2 giá gồm 16 quả rốc két ở 2 cánh, ngoài ra còn thiết kế thêm chỗ ném bom và thả pháo sáng. Sau khi cải tiến thành công, Trung đoàn 919 đã tổ chức bay huấn luyện chiến đấu cho các tổ bay, thời gian huấn luyện là vào ban đêm và chủ yếu là những đêm trời sáng trăng.
Sau khi huấn luyện xong, 11 giờ đêm 7/3/1966, tổ bay An-2, số hiệu 670 của Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 919) gồm: Phan Như Cẩn (lái chính), Trần Sỹ Tiêu (lái phụ), Phạm Thanh Tâm (dẫn đường), Loan Thế Linh (cơ giới trên không) được lệnh cất cánh vào đánh tàu biệt kích địch xâm phạm vùng biển Thanh Hoá.
Đêm đó trăng sáng lờ mờ, sau khi cất cánh từ sân bay Gia Lâm máy bay bay ở độ cao 200-300m, tốc độ 150-200km/h. Suốt quãng đường từ Gia Lâm vào Thanh Hoá, tổ bay phải quan sát và điều khiển máy bay hoàn toàn bằng mắt thường. Dưới mặt đất rất tối, tổ bay bám theo ánh sáng đèn ô tô phát ra từ quốc lộ 1A để vào khu vực Hàm Rồng rồi từ đó lần theo sông ra cửa biển. Chỉ đến khi vào không vực Thanh Hoá máy bay ta mới được ra-đa dẫn đường tiếp cận tàu chiến địch cách Sầm Sơn 20 cây số.
Ra đến biển, lái chính Phan Như Cẩn cho máy bay hạ độ cao xuống 150m để việc quan sát tàu địch được tốt hơn. Mặc dù trời sáng trăng nhưng mặt biển vẫn tối đen như mực, duy chỉ có những ngọn sóng là nhìn rất rõ.
Đến vị trí tàu địch, tổ bay quan sát thấy có 3 vệt sóng hình chữ V hằn trên mặt nước, đến gần hơn tổ bay thấy đội hình 3 chiếc tàu địch di chuyển theo hình bậc thang, tổ bay quyết định chọn chiếc cuối cùng để công kích. Phan Như Cẩn cho máy bay lên độ cao 300m rồi làm động tác bổ nhào, lấy đường ngắm chuẩn và phóng một loạt rốc két sau đó thoát ly, trên đường vào thì bị thương và hạ cánh bắt buộc xuống bãi biển và được nhân dân Quảng Vinh cứu giúp.
Cũng sáng hôm sau dân quân địa phương vớt được xác các mảng tàu địch bị vỡ trôi dạt vào bờ, quá đó chứng minh chiếc tàu đã bị đánh chìm hoàn toàn.
Tổ bay 670 ngày ấy
Cuộc gặp gỡ với những người dân cứu hộ máy bay
Trong hành trang trở lại chiến trường xưa, ông Linh còn mang theo cả tấm ảnh chụp tổ bay, ảnh chụp mảng vỡ của tàu biệt kích địch cùng tờ báo Quân đội nhân dân số ra ngày 21/5/1967 đăng tên ông và đồng đội được Bác Hồ tặng huy hiệu của Người.
Chúng tôi đến trụ sở uỷ ban xã Quảng Vinh thì đã hơn 11 giờ trưa, các cán bộ, nhân viên đều đã nghỉ, nhưng khi nghe tin có cựu phi công tổ bay 670 trở về, ông Lê Quang Bảo-Chủ tịch xã cùng anh Trần Văn Hải-phụ trách văn hoá xã hội đã trực tiếp đến dẫn chúng tôi về nhà ông Lê Quang Nhiều - nguyên Chủ tịch xã Quảng Vinh năm 1966, là người đã trực tiếp chỉ huy công tác cứu hộ, cứu nạn cho tổ bay ngày ấy.
Đi giữa con đường làng vi vu gió mát, sóng vỗ ầm ào, đôi mắt ông Linh như sáng lên mỗi khi bắt gặp cảnh vật thân quen của 46 năm về trước, làng quê ven biển nay đã đổi thay nhiều. Quảng Vinh là địa phương giàu truyền thống cách mạng, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Gặp lại nhau, ông Nhiều nhanh chóng nhận ra người phi công đeo phù hiệu cờ đỏ sao vàng năm xưa, họ đứng lặng giây lát rồi ôm chầm lấy nhau, những bàn tay gân guốc năm chặt, đôi mắt ngân ngấn lệ.
Ông Nhiều liền cho con cháu đi mời ông Văn Tấn Dũng - người dân quân đầu tiên phát hiện chiếc máy bay trên bãi biển, cụ Văn Đình Lấng - một trong những người tình nguyện rút ván cửa nhà mình đi lát đường băng và bà Nguyễn Thị Thấng - nguyên chủ tịch Hội Phụ nữ Quảng Vinh năm 1966.
Mọi ánh mắt đổ dồn cả về cựu phi công, ông Linh xúc động nói: “Thưa các bác, các cô, các anh chị, đêm hôm đó khi đáp xuống được bãi biển chúng tôi mới biết mình đã thực sự an toàn, nhưng đồng chí lái chính lại bị thương, lúc đó tình hình cấp bách, lo cứu người, cứu máy bay, cộng với đêm tối nên tôi không kịp nhớ một gương mặt cụ thể nào, nhưng trong tôi vẫn vang vọng những giọng nói, những cử chỉ ân cần của các bác, các mẹ, các chị. Thật tiếc là 4 người trong tổ bay hôm đó nay chỉ còn mình tôi, các anh đã anh dũng hy sinh trong những trận sau đó. Giá mà các anh còn sống, được gặp lại bà con thế này thật ý nghĩa biết bao”!
Sau đó ông Linh đã được bà con nhân dân Quảng Vỉnh dẫn ra biển để thăm lại nơi tổ bay hạ cánh, cất dấu máy bay và khu vực lát đường băng... Biển xanh ầm ào sóng vỗ, nhìn những chiếc thuyền phơi mình trên bãi cát lân tinh, ông Linh kể: “Không hiểu sao ngày đó trên bãi biển khi chúng tôi hạ cánh không có bất cứ chiếc thuyền nào, sau này nghĩ lại trong thâm tâm tôi nghĩ rằng có lẽ nhân dân Quảng Vinh đã có dự cảm trước để chuẩn bị cho chúng tôi một chỗ đáp an toàn xuống đất mẹ”!
Vậy là sau gần nửa thế kỷ, cuối cùng mong muốn của ông Linh đã trở thành hiện thực. Và hơn thế, khi trở về, ông còn gặp lại ở đó, nguyên vẹn tình quân dân ngày nào.
Bài, ảnh: Nguyễn Thành Trung