GS-VS Đào Thế Tuấn sinh ngày 4/7/1931 tại thành phố Huế, nguyên quán ở Khúc Thủy, Thanh Oai, Hà Tây cũ (nay là Hà Nội). Ông là con trai cả của cụ Đào Duy Anh, một trong số ít nhân vật Việt Nam được ghi tên vào bộ từ điển Larousse với tư cách là một nhà bách khoa toàn thư của thời hiện đại.
“Cha đẻ” của nhiều giống lúa năng suất cao
Năm 1953, Đào Thế Tuấn là một trong 50 cán bộ đầu tiên được cử sang Liên Xô, ông học tại Trường Đại học Nông nghiệp Tachkent.

GS-VS Đào Thế Tuấn đã nghiên cứu tìm ra quy luật tạo thành năng suất của các ruộng lúa năng suất cao, đặt cơ sở cho việc thâm canh lúa năng suất cao ở nước ta. Năm 1983, GS-VS Đào Thế Tuấn sáng lập bộ môn Hệ thống nông nghiệp. Đây là hướng nghiên cứu mới của khoa học nông nghiệp trên quan điểm hệ thống bao gồm hệ sinh thái và hệ thống kinh tế - xã hội ở các vùng khác nhau. Ông nghiên cứu và đề xuất hướng chọn giống cây trồng chịu được điều kiện bất thuận (hạn, úng, mặn, rét, sâu bệnh...). Từ hướng này các nhà nông học nước ta đã tạo được 7 giống lúa đáp ứng yêu cầu thâm canh ở nhiều vùng sinh thái khác nhau...
Đô thị hóa ở Thăng Long - Kẻ Chợ
Tuy là một GS nông học nhưng GS-VS Đào Thế Tuấn có những hiểu biết uyên thâm về văn hóa lịch sử Hà Nội. Theo ông, phần lớn thủ đô của các nước Đông Á đều được xây dựng theo mô hình kinh thành của Trung Quốc, tuy nhiên, thành Thăng Long không theo mô hình này. Thăng Long bắt đầu phát triển kể từ thế kỷ 14 với tên gọi dân gian là Kẻ Chợ có 5 đến 6 bến tàu và mạng lưới gồm 8 chợ vào thế kỷ thứ 16 và 4 chợ mới vào thế kỷ thứ 19 ở tất cả các cửa ngõ ra vào thành. Thăng Long được chia thành nhiều phường, mỗi phường phát triển một nghề thủ công. Vào thế kỷ 13, thành phố có 61 phường, nhưng đến thế kỷ thứ 16 chỉ còn lại 36 phường.
Theo GS-VS Đào Thế Tuấn, một đặc điểm của Thăng Long là các phường ở trung tâm thành phố lại do dân từ các làng nghề châu thổ sông Hồng đến buôn bán rồi định cư lập nên các phường nghề. Trong khi đó các làng ven đô của Thăng Long lại rất bảo thủ. Dân các làng này hoặc có nguồn gốc sở tại, hoặc đã di cư đến từ lâu theo yêu cầu của triều đình, định cư để phát triển nông nghiệp hay xây dựng các làng nghề. Các làng này đã lưu giữ các tập quán của làng Việt Nam rất chặt chẽ. Sau này trong quá trình đô thị hóa đã để mất các nghề truyền thống, chuyển sang buôn bán phục vụ cho yêu cầu của thành thị.
|
|
Vành đai 2: gồm các làng ở xa thành phố hơn, chưa có điều kiện đô thị hóa, đang phát triển nhanh, có hoạt động phi nông nghiệp ở các làng nghề truyền thống hoặc mới thành lập. Những cụm ngành nghề này đang bị đô thị hóa tự phát mà chưa có quy hoạch, tạo nên quá trình đô thị hóa phi tập trung ở vùng ven Hà Nội với vành đai cụm công nghiệp và nông nghiệp rất năng động. Quá trình này đã dẫn đến nhưng thay đổi về cơ cấu trong vùng dựa trên nội lực.
Vành đai 3: gồm các làng ở xa thủ đô, không có mối quan hệ kinh tế trực tiếp với thủ đô. Hoạt động chính ở đây là nông nghiệp và thu nhập của người dân thấp. Đàn ông và phụ nữ trẻ rời bỏ làng để lên thành phố tìm việc, giao việc làm nông lại cho phụ nữ đứng tuổi và người già. Nền nông nghiệp ở đây mang tính quảng canh và không có chăn nuôi.
Bài toán “tam nông” thời kỳ đô thị hóa
Trước mục tiêu là năm 2020 nước ta sẽ trở thành một nước công nghiệp. GS-VS Đào Thế Tuấn cùng đồng nghiệp đã xây dựng một mô hình dự báo sự phát triển đến 2020. Kết quả cho thấy nếu GDP là trên 8 % năm thì đến 2020 nông nghiệp chỉ chiếm khoảng gần 10% GDP, như vậy có thể coi là bắt đầu trở thành một nước công nghiệp.
Tuy vậy, tỷ lệ đô thị hóa của nước ta chưa đến 50% (theo Bộ Xây dựng là 45 %). Như vậy là tốc độ đô thị hóa của nước ta sẽ chậm hơn công nghiệp hoá như các nước đang phát triển khác, thêm vào đó tỷ lệ sinh đẻ trong thời kỳ công nghiệp hóa còn cao (trên 2% năm), tạo ra số lao động thừa ngày càng cao. Vì vậy lúc đã trở thành một nước công nghiệp, tỷ lệ nông thôn và đi đôi với nó là nông nghiệp vẫn còn quan trọng. Đây là một điều mà nhiều người ít ngờ đến vì cho rằng vai trò của nông nghiệp sẽ giảm đi trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa.
Theo GS-VS Đào Thế Tuấn, việc điều chỉnh lại tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa là biện pháp hữu hiệu nhất để giải quyết các mâu thuẫn giữa thành thị và nông thôn trong vấn đề đất đai và lao động. Việc xây dựng các khu công nghiệp quá nhanh và đô thị hóa quá nhanh sẽ là một sự lãng phí lớn trong lúc chưa có một hướng công nghiệp hóa mới. Nhiều đô thị mới đang ở trong một tình trạng “giả tạo” chưa có tác dụng thúc đẩy sự phát triển toàn diện của cả nền kinh tế. Lấy đất xong, nhưng chưa chuyển đổi được cơ cấu lao động vì chưa chuyển đổi được cơ cấu kinh tế.
Nông nghiệp vẫn sẽ là cứu cánh giúp các nước ra khỏi cuộc suy thoái kinh tế, nhu cầu lương thực ngày sẽ càng tăng nhanh dù có khủng hoảng kinh tế hay không. Theo dự báo, dân số thế giới hiện nay là 6,8 tỷ người, vào năm 2050 sẽ là 9,1 tỷ người và nhu cầu thực phẩm sẽ tăng gấp đôi hiện nay.
Công nghiệp hóa dựa vào nông nghiệp sẽ là mô hình có ưu thế cạnh tranh ở Việt Nam, tạo được sự phát triển bền vững. Du lịch nông thôn cũng là một biện pháp trong phát triển đô thị, nó có thể tăng gấp đôi thu nhập của nông dân, tạo việc làm và thúc đẩy nâng cao chất lượng của nông nghiệp. “Mô hình đô thị hóa hiện nay đang phổ biến ở châu Á không phải là phát triển các siêu đô thị (trên 8 triệu dân) mà là mô hình đô thị hóa phi tập trung bao gồm các thị trấn và thị tứ nhỏ có một vành đai nông nghiệp bao quanh. Hà Nội cần phát triển theo mô hình này”, GS-VS Đào Thế Tuấn khẳng định.