Thế giới

Về thăm lại tộc người “Thương lắm”

19/10/2009 08:52 GMT+7 Google News
(TT&VH) - Khi thuỷ điện Bản Vẽ khởi công, người Ơ Đu rời bản Kim Hoà, Xốp Pột - nơi ăn đời ở kiếp bên dòng Nậm Nơn - để nhường chỗ cho đập thủy điện và chuyển về khu tái định cư bản Văng Môn xã Nga My huyện Tương Dương.

Đến bản người Ơ Đu không còn phải ngược những con thác Nậm Nơn hung dữ bằng thuyền đuôi én nữa. Thay vào đấy, con đường gập ghềnh đèo dốc và mịt mù đất đỏ là cầu nối một trong các bộ tộc ít người nhất trong cộng đồng các dân tộc Việt với thế giới bên ngoài.    

Đường về bản Văng...

Cách thị trấn Hoà Bình (Tương Dương – Nghệ An) hơn 80 cây số, bản tái định cư Văng Môn nằm lọt thỏm giữa thung lũng bằng phẳng, một bên là rừng, một bên lúp xúp đồi đất đỏ quạch, đá sỏi lổn nhổn. Chúng tôi đã có dịp đến Văng Môn cách đây tròn 3 năm, khi người Ơ Đu mới chân ướt chân ráo chuyển về đây. Sau 3 năm, được nhà nước đầu tư nhiều, đời sống người Ơ Đu đã khá lên nhiều, nhưng vẫn còn đó trăm nỗi lo toan.

Bản tái định cư Văng Môn


Bản Văng Môn của người Ơ Đu chia làm 3 khu nhỏ, mỗi khu hơn hai chục mái nhà. Trên đồi lèo tèo mấy nương mì (sắn), khoai lang, bí đỏ. Dưới thung là hơn tám chục mái nhà sàn chủ yếu xây bằng xi măng vách gỗ đúng một  kiểu nhà tái định cư. Con đường nhựa dải đá dăm đến tận các nhà dân. Cả bản dùng chung bốn bể nước sạch xây bằng vốn dự án tái định cư. Thăm bản Ơ Đu khách dù đến nhà ai cũng phải qua nhà trưởng bản để chào trước. Nhà trưởng bản Lo Phong ở đầu bản, và chỉ vài phút sau hàng chục người lục tục kéo đến... xem mặt khách. Lo Phong ngoài 60 tuổi đã giữ chức trưởng bản từ hơn 10 năm nay.

Theo các cụ già, thời trước các bản làng Ơ Đu nằm rải rác dọc theo dòng Nậm Nơn giáp biên giới Việt – Lào, sống xen lẫn với các bản làng trù phú của người Thái. Người Ơ Đu thường phải nương nhờ vào các bản người Thái, Khơ Mú để sinh sống và duy trì nòi giống vì số lượng quá ít. Nhưng nếu như cuộc sống của người Thái, Khơ Mú ngày càng phát triển thì người Ơ Đu vẫn vậy: đói nghèo, lạc hậu, và ít ỏi hơn. Cái tên Ơ Đu trong tiếng Thái nghĩa là “Thương lắm”, “Tội lắm”. Có lẽ người Thái vì thấy thương cuộc sống vất vả của bộ tộc anh em mà thốt lên “Ơ Đu”, không ngờ lại thành tên một tộc người!

Theo Trưởng phòng Văn hoá huyện Tương Dương Lương Bá Vin, toàn bộ nam phụ lão ấu người Ơ Đu hiện nay chỉ còn khoảng 600 người, đông nhất chính là bản tái định cư Văng Môn với hơn 400 người với gần 80 hộ. Tất cả người Ơ Đu đều mang họ Lo và nguy cơ mai một dòng họ này luôn khiến cho người già lo lắng. Già tộc trưởng Lo Mằn là người cao tuổi nhất của cộng đồng người Ơ Đu, được coi là pho sử sống, pho ngôn ngữ Ơ Đu duy nhất còn sót lại. Già Lo Mằn chính là cha của thầy giáo Lo Kim Trọng người Ơ Đu duy nhất có trình độ đại học, niềm tự hào của người dân Ơ Đu. Già Mằn kể người Ơ Đu còn có một tên nữa ít  phổ biến hơn do người Khơ Mú đặt là “Tày Hạt”. Tày Hạt có nghĩa là “Người Đói rách”.

Lo Hân, đứa trẻ hiếm hoi của người Ơ Đu


Già Mằn trầm ngâm nhớ lại: “Ngày xưa, sống dựa vào núi rừng mà, đường sá không có, người bệnh chuyển bằng thuyền đuôi én xuôi dòng Nậm Nơn mất cả ngày đường mới ra đến bệnh viện huyện. Người chết bệnh nhiều, trẻ con cũng chết đi nhiều lắm nên dân Ơ Đu chúng ta thời kỳ những năm 1990 rơi vào tình trạng báo động đỏ về tình trạng tuyệt chủng. Dân số của toàn bộ tộc lúc đó tụt xuống chỉ gần 200 người thôi. Cái đói, cái khổ, cái hủ tục lạc hậu mê tín giết chết không biết bao nhiêu người”.
     
Nỗi lòng của người già
 
Già Mằn ao ước: “Đời tau chỉ thèm được ăn Pá bọc rồi uống Lậu sả thô thôi. Gần 80 tuổi rồi mà mới được uống rượu Lậu sả thô và ăn Pá bọc có ba lần”. Đó là những món truyền thống của người Ơ Đu chỉ dành cho đám cưới giữa hai người Ơ Đu với nhau. Già Mằn luôn nhớ những món mang hồn tộc mình mà đám cưới thì chờ mãi không có nên luôn trữ sẵn trong nhà đợi khách quý từ xa đến: “Khách phải ăn hai món này mới ở được với người Ơ Đu chúng ta, được bà con coi như người nhà”. 

Trưởng bản Lo Phong

Pá bọc là món ăn nổi tiếng của người Ơ Đu. Đó là những thanh nứa được thanh niên Ơ Đu lên tận rừng đầu nguồn chọn về, khắc hoa văn và óng lên màu vàng ruộm. Bên trong ống nứa là rau, cà, hoa chuối, lá môn được trộn chung với cá, lòng cá đã... ươn, thịt lợn đen, thịt chuột rừng. Già Mằn lấy que chọc trong ống nứa cho mọi thứ  nhỏ vụn ra rồi hơ lên bếp lửa. Khi ống nứa sôi lên, nước ứa ra là ăn được. Rượu Lậu sả thô là thứ rượu riêng của người Ơ Đu được chưng cất theo một công thức rất đặc biệt. Màu giọt rượu nâu như mật ong, uống chạm vào lưỡi ấm nồng, vào đến cổ nóng ran và khi cạn chén một vị ngọt bùi dâng lên. Già Mằn rót rượu Lậu sả thô ra và lại trầm ngâm “Rượu thì ngon mà không có cô dâu chú rể thì cũng thấy đắng lắm”. Dù người Ơ Đu thuộc diện được Nhà nước cho phép sinh con thứ 3 nhưng mấy chục năm nay bộ tộc Ơ Đu không tăng thêm được là mấy. Cả bản Văng Môn lúc nào cũng mong có đám cưới người Ơ Đu để lại say sưa bên vò Lậu sả thô, mời nhau Pá bọc nhưng xem ra thật khó.

Người Ơ Đu không có chữ viết, ngôn ngữ của họ thuộc nhóm Môn – Khơ me nhưng hiện đã mai một, hầu như không sử dụng. Họ chỉ còn ý thức tự giác một cách mơ hồ về nguồn gốc tộc người do ngôn ngữ đã biến mất. Cả bộ tộc chỉ còn 4 cụ già thạo tiếng mẹ đẻ và biết chuyện của dân tộc mình, và chỉ có vài người trung niên, thanh niên lõm bõm nói được mấy tiếng Ơ Đu đơn giản, kiểu như: Chà pa là ăn cơm, Chom pay là uống nước, chom ray là uống rượu... Vì vậy các cụ già bắt buộc phải nói bằng tiếng Ơ Đu hoàn toàn để con cháu, quen cái miệng học tập. Nếu không thì tiếng Ơ Đu chẳng mấy chốc sẽ biến mất. Già Mằn than thở “Bây giờ gối đã mỏi, mắt đã mờ chẳng mấy chốc nữa mà phải về với tổ tiên. Lúc ấy tiếng người Ơ Đu cũng theo ta về với trời thôi”. Nỗi lòng người Ơ Đu ai cũng có thể hiểu được vì một dân tộc quá ít người, ở lẫn vào các dân tộc khác lại bị chia rẽ bởi nhiều bản làng cách biệt, rải rác và liên tục di chuyển.

Hiện người Ơ Đu vẫn đang nhận được sự hỗ trợ từ hai dự án của Nhà nước là Dự án tái định cư thủy điện Bản Vẽ, và Dự án Đầu tư phát triển 5 dân tộc có số dân dưới 1.000 người của Ủy ban Dân tộc. Hai dự án này đều hỗ trợ người dân về nhà ở, nước sạch, tiền mua dụng cụ sản xuất, mỗi khẩu được hỗ trợ 30kg gạo/tháng trong 3 năm, cứ 3 hộ được xây dựng một bể nước chung và một nhà tắm... Tuy nhiên, đây mới là bước đầu để người Ơ Đu ổn định nơi ở mới, để nâng cao đời sống vật chất và giữ lại bản sắc văn hóa của người Ơ Đu nơi đây vẫn còn nhiều việc phải làm, nhất là khi hai dự án này kết thúc vào cuối năm 2009.

Thảo Vi – Ngọc Bích

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm