(TT&VH) - Có lẽ còn phải một thời gian lâu nữa tôi mới có thể quên được bữa cơm trưa hôm ấy của hai em nhỏ Sao và Noọng. Thức ăn chính là những con nhện rừng vằn vện được rang chín nhìn như loài sâu và tôi đã không đủ can đảm đụng đũa đến chúng.
Ba năm sống cảnh “lưu đày”
Chúng tôi đến thôn Trung Đình (Chi Khê - Con Cuông – Nghệ An) vào một ngày trung tuần tháng 8, khi dải đất này đã phải hứng chịu đợt nắng nóng kéo dài hơn một tuần. Người ta đo được nhiệt độ ngoài trời gần 390C. Chúng tôi phải trang bị như một thợ rừng thực thụ mới dám đi vào khu rừng vốn nhiều muỗi và vắt ấy: giày cao cổ, xà cạp, thuốc chống vắt, còn đồ nghề báo chí được cất trong chiếc ba lô mượn được của anh bạn thợ rừng mới quen lúc kéo nhau lên đường.

Lúc ấy là 7 giờ sáng. Ai cũng chủ trương đi sớm để tránh nắng, nhưng phải đến 11 giờ trưa, qua một quãng đường dài trèo đèo lội non mới tới được chỗ của hai em nhỏ Lộc Văn Sao và Lộc Văn Noọng. Hai chú bé đã nghỉ học ba năm. Anh Lộc Văn Chính đã không thể kiếm đủ tiền đóng học cho các con. Trong tay người thợ rừng nghèo này chỉ có một căn nhà lá trống tuếch, một khu vườn hoang, 400m2 ruộng nước và cái có giá nhất là một sức vóc không đến nỗi tồi, để có thể vác rìu lên rừng đốn gỗ.
Sao kể lại rằng cách đây ba năm, em đã bàn với em trai là Noọng cùng nhau nghỉ học về giúp cha kiếm gạo. Năm ấy em 12 tuổi và Noọng vừa lên mười cùng học lớp 5 với nhau. Cu em nghe theo anh và từ hôm đó không ai chịu đến lớp nữa. Người cha chưa đầy 40 tuổi ấy không ý kiến gì. Coi như đó là sự đồng thuận trong im lặng của anh ta về việc hai đứa con nghỉ học.
Rồi một hôm anh Chính dẫn hai đứa con đang trong tuổi ăn, tuổi lớn vào sâu trong khu rừng Khe Hạ Nhương này. Đây đã rất gần với vùng cấm ngặt của Vườn quốc gia Pù Mát. Anh đã dựng sẵn cho hai đứa con một căn chòi nhỏ như một cái tổ chim treo vắt vẻo trên lưng chừng núi. Mùa hè không thiếu gì gió mát nhưng khi mới chớm đông đã rét thấu xương. Từ đó, hai chú bé trở thành những thợ sơn tràng thực thụ - những thợ rừng “nhí”, cũng cầm rìu, vác cưa đi đốn gỗ như ai.
Kiếm gạo nuôi cha đào núi
Từ ba năm nay, anh Chính cũng ở hẳn trong khu rừng này, với dự định mà anh cho rằng để hoàn thành được nó có khi anh phải mất cả phần đời còn lại. Anh định biến quả núi chập chùng đá sỏi này thành những thửa bậc thang cấy lúa nước, như những cảnh chiếu trên truyền hình. Ba năm, anh đã đào bới lên không biết bao nhiêu là đá sỏi và cũng chỉ mới đào xong một thửa nhỏ rộng 10m dài chừng 200m. Anh đã trồng được vài vụ ngô và hai vụ lạc. Để có nước cấy lúa, anh đang phải đào một con mương dẫn nước từ trên đỉnh núi xuống, ước chừng dài gần 2km và có thể phải mất thêm đến nửa năm.

Anh cũng dự định sẽ trồng thêm một vườn keo lai dưới chân ruộng. Rồi đây cả đồi cây và ruộng nước đều là tài sản anh để lại cho hai đứa con. Chính sách giao đất, giao rừng triển khai từ giữa những năm 90 thế kỷ trước và bà con nông dân các thôn bản ở Con Cuông đã kéo nhau vào rừng khoanh vùng, lập lâm bạ. Anh mới ra ở riêng chưa lâu nên không còn những phần rừng ở gần bản nữa. Theo như cách bà con vẫn quen miệng nói, đất đai ở đây đều đã “giấy trắng, mực đen” cả rồi. Ở vùng rừng núi này không còn mảnh đất nào vô chủ nữa.
Sao và Noọng đã thành những người kiếm cơm chính nuôi sống gia đình. Hễ nhà hết gạo ăn, Sao lại vác rìu lên rừng đốn một khúc gỗ tròn chu vi chừng hơn 100cm, dài khoảng 4m mà dân chuyên khai thác đỗ lậu gọi là gỗ tạp. Noọng sẽ đánh bò lên kéo về bán cho đầu nậu buôn gỗ để lấy khoảng hơn một trăm ngàn đồng, đủ mua gạo cho cả nhà ăn một tuần. Đó chưa kể đến những nhu yếu phẩm khác như bột giặt, muối, dầu thắp, pin đèn… hai anh em đều phải lo đầy đủ.
Người cha của hai em chỉ việc tập trung thì giờ và sức lực lo việc dời non chuyển núi. Sao và Noọng chỉ được về bản vào những dịp kéo gỗ, phần thời gian còn lại, chúng ở trong căn chòi nhỏ, bốn bề ngút ngát một màu xanh. Mầu xanh tưởng chừng như rất thơ mộng ấy lại là nỗi sợ ghê gớm đối với những đứa trẻ này. Nhất là với cậu em, cứ hôm nào phải ngủ lại rừng một mình, đó là đêm thức trắng của cậu, giữa muôn vàn những tiếng động kỳ lạ xung quanh.
Học chỉ còn là ký ức
Hai em nhỏ có mời chúng tôi dự bữa ăn trưa thường ngày. Hai em đã chuẩn bị một túi… nhện rừng tranh thủ đi bắt trong buổi sáng, trước khi chúng tôi ghé thăm. Những con nhện rừng vằn vện nhìn như sâu róm, khi sa vào lưới của chúng thì đến cả con chim sâu lớn gấp chúng nhiều lần cũng không thoát chết.

Những con nhện nhanh chóng được cắt chân bằng cái kéo vẫn được dùng cắt tóc và sau đó rang chín nên nhìn cũng có vẻ ngon mắt hơn, nhưng mùi vị của món ăn này thì quả là khó chịu và tôi đã không tài nào dám đưa lên miệng. Bữa cơm trưa hôm ấy là lần đầu tiên chúng tôi ăn cơm giữa chốn rừng già. Nhưng mỗi khi nhớ lại, tôi lại thấy cồm cộm một ý nghĩ, có lẽ cái cảnh sống của Sao và Noọng không hẳn đã là quá éo le, nhưng có lẽ lối sống hoang dã đã ngẫm vào máu thịt những đứa trẻ đã từng có một thời ngồi trên ghế nhà trường. Với các em, khái niệm thứ - ngày - tháng - năm đã trở nên mù mờ, chứ đừng nói gì tới trường, tới lớp.
Chúng tôi chia tay ba cha con thợ rừng trong buổi chiều tà, khi ánh nắng đã lùi về phía sau những ngọn núi xa. Một ngày nữa trong chuỗi ngày nhọn nhằn dài dằng dặc của Sao và Noọng đang khép lại. Ngày mai có gì chờ đợi hai em nhỏ sống giữa rừng già này?
Hữu Vi