Chuyện cây đa - di tích lịch sử Cách mạng ở Tân Trào (huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang) - bị “ốm”, rồi dẫn đến nguy cơ “ra đi” như báo chí gần đây nêu, lâu nay đã làm rầu lòng biết bao người quan tâm đến di tích Cách mạng này. Bởi thế, cũng thật dễ hiểu là cái tin “cây đa Tân Trào đang hồi sinh” có ý nghĩa đặc biệt như thế nào, nhất là trong những ngày Tháng Tám lịch sử...
Nỗi lòng di sản

Đáng kể nhất là chiếc tủ kính bày những cúp, huy chương ở các kỳ hội chợ triển lãm, có cả giải thưởng VIFOTEC năm 2005 (cho công trình “Nghiên cứu sử dụng phân bón lá hữu cơ sinh học KH để giảm thiểu thiệt hại do thiên tai cho sản xuất nông nghiệp”). Câu đầu tiên, ông hồ hởi nói: “Cây sống rồi ông ạ! Ra nhiều chồi lắm, có một chồi cấp 1, còn cành cấp 3, cấp 4 thì không đếm được”. Thì một lãnh đạo tỉnh Tuyên Quang cũng mới “khoe” với chúng tôi thế. Chả gì thì việc cây đa hồi sinh cũng đã cất được gánh lo bấy nay vẫn thấp thỏm đè nặng tâm can những người có trách nhiệm ở Tuyên Quang.

Trước đây cây có 2 gốc, dân thường gọi là “cây đa Ông” và “cây đa Bà”, nhưng phần lớn cây “Ông” đã gãy đổ sau trận bão năm 1994. Thực ra thì gió cả, bão lớn đến mấy cũng không quật ngã cổ thụ được nếu như cái cây không bị suy thoái từ lâu. Sinh vật cổ linh thiêng này bị suy thoái đến chết dần chết mòn bởi chính những con người vẫn hằng trân trọng quý mến nó. Trong hàng chục năm trời, quanh cái cây - di tích trở thành... bãi chăn thả trâu bò. Gốc với rễ cây sứt sẹo vì gia súc cọ húc, vì bị dùng làm “thớt” chặt tre pheo. Mặt đất bị giẫm đạp nhiều, lại mưa gió xói mòn nên trôi mất thảm bì thực vật, trơ ra lớp sỏi. Những năm đầu thập niên 7 của thế kỷ trước, khi xây đập Nà Lừa, đơn vị thi công đã tập kết cát đá, máy móc, xăng dầu quanh gốc cây...
Quá nhiều tác động không có lợi trong một thời gian dài đã khiến cây phát triển không bình thường. Tiếc thay, dù đã có nhiều cảnh báo nhưng lại rất ít người bận tâm, hậu quả là “cây Ông” đã “ra đi” tức tưởi như thế, còn “cây Bà”... Cách đây hơn một năm, tôi đã có dịp “mục sở thị” thì thấy hầu hết phần ngọn, trong đó có nhiều cành to, đường kính từ 70cm - 100cm, bị trụi lá, chết khô và đang lan xuống thân (theo một cán bộ Bảo tàng Tân Trào, đơn vị quản lý khu di tích, thì “tốc độ khô trụi khá nhanh”). Dưới gốc có nhiều chỗ mục có thể xuyên tay qua lớp vỏ vào trong...
Từ năm 2000, chuyện cây đa bị “bệnh” đã khiến nhiều người, nhiều cơ quan có trách nhiệm lo lắng. Không chỉ Bảo tàng Tân Trào, huyện và tỉnh lo, mà cả Bộ NN&PTNT với Viện Khoa học Lâm nghiệp cũng vào cuộc. Công văn đi công văn đến, rồi họp thành hội nghị bàn cách cứu chữa, từ phương án thành dự án, rồi lại nâng thành đề tài khoa học cấp Nhà nước... Cũng có một vài tác động cụ thể như phun thuốc, tưới bón, dựng hàng rào xung quanh... Nhưng, đến gần giữa năm 2008, cây vẫn tiếp tục “xuống cấp”, khô héo. Đã có lúc, không ít người bi quan, cho là “bó tay, đành chịu tội với tiền nhân”. Thật may, trong lúc “nước sôi lửa bỏng” như thế thì “thần y” cùng với “thần dược” xuất hiện.
Làm với cái tâm của mình
Khoảng cuối năm 2007, một vị Phó tổng biên tập báo Nông nghiệp gọi điện cho ông Kết: “Ông xem có cách nào cứu cây đa Tân Trào không?”. Ông tỏ ý ngại, bởi “đó là việc của các cơ quan chức năng, dính vào phiền phức lắm”. Rồi công việc cứ cuốn ông đi. Đầu tháng 4, ông đi Nhật Bản dự khóa học quản lý doanh nghiệp (do phía Nhật tài trợ) về, lại đi tổng kết chống rét ở Thái Bình... Các nhà báo liên tục gọi điện, thúc giục ông đi cứu cây đa. Thấy đây là việc trọng đại, ông quyết định lên khảo sát đồng thời tìm tài liệu nghiên cứu về cây đa.

Ngày 19-5, ông lên Tuyên Quang cùng một số nhà báo và cán bộ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), được lãnh đạo tỉnh đón tiếp, đưa đi xem cây đa. Ông nhận thấy đất và cây đều nhiễm độc nặng, cây bị suy kiệt. Muốn cứu được thì phải giải độc cho đất, giải độc cho cây và cung cấp dinh dưỡng cho nó. Trước lãnh đạo tỉnh và cán bộ chức năng của các sở, ngành như Văn hóa, Du lịch, Nông nghiệp (có cả các chuyên gia Lâm nghiệp và Bảo vệ thực vật), Khoa học - Công nghệ, Kế hoạch - Đầu tư..., ông Kết thuyết trình phương án cứu chữa cây đa. Thuyết trình xong ông kéo đoàn về Hà Nội, dù tỉnh mời ở lại ăn cơm...
Mấy ngày sau, đích thân Phó giám đốc Sở Nông nghiệp tỉnh và Giám đốc Bảo tàng Tân Trào xuống văn phòng công ty ông, hẳn là muốn xem Nguyễn Anh Kết và cái công ty cổ phần Thanh Hà của ông có đủ tư cách, đủ năng lực để mà cứu chữa cây đa không đây? Họ đề nghị ông lập dự án, ông bảo “Chẳng dự án dự iếc gì sất, những gì cần nói tôi đã nói hết với các anh rồi, giờ là lúc cần hành động”. Nói thế chứ là doanh nghiệp, ông quá hiểu thế nào là “thủ tục hành chính”, nên ông cũng làm mươi trang gọi là “phương án”. Thế rồi, sau khi được Bộ Nông nghiệp chấp thuận, UBND tỉnh Tuyên Quang chính thức có công văn mời công ty ông tham gia cứu chữa cây đa...
Ông Kết kể: “Chúng tôi dùng chế phẩm sinh học KH, AH, NH của công ty phun ướt lá, gốc, thân và đất xung quanh cây. Tác dụng của chế phẩm sinh học này là cung cấp dinh dưỡng tức thì, giải độc cho cây, giải độc cho đất. Chế phẩm này có những mạch điều chỉnh sinh học dựa trên cơ sở sinh học phân tử - công nghệ Nano, giúp cân bằng nhanh, tăng khả năng miễn dịch, kích thích phát triển tế bào, phục hồi nhanh các tế bào bị tổn thương, cung cấp vi lượng, siêu vi lượng cùng các hợp chất hữu cơ, i-on khác... Và kết quả thì như ông thấy đấy”. Hôm thuyết trình trước lãnh đạo tỉnh Tuyên Quang và các sở, ngành, ông Kết đã tuyên bố, nếu để ông chữa thì 3 tháng sau cây sẽ nảy mầm (nhiều người đã tỏ ý nghi ngờ, cho là ông “mạnh mồm” thế). Vậy mà bây giờ, mới chỉ một tháng rưỡi sau khi phun thuốc, mầm với chồi non đã đua nhau mọc, đặc biệt là dưới gốc cây già (cấp 1) cũng đâm chồi. Những cành còn sót lá, trước vàng úa giờ cũng tươi xanh trở lại.
Khỏi phải nói, việc cây đa hồi sinh khiến những người có trách nhiệm, (và rất nhiều người yêu di sản) phấn khởi như thế nào, còn ông Kết cũng mừng thầm trong bụng. Bởi không cứu được cây đa thì không những bản thân ông bị dằn vặt bởi không cứu được một di tích lịch sử Cách mạng - văn hóa quý báu của đất nước, mà cả cái thương hiệu của công ty bao nhiêu năm ông vật vã mới gây dựng được cũng “chết” theo.