(TT&VH) - Giữa tháng 6 vừa qua, Quốc hội nước ta đã bỏ phiếu thông qua việc áp dụng phương thức thi hành án tử hình mới từ ngày 1/7/2011 là tiêm thuốc độc. Đây là phương thức thi hành án mới ở Việt Nam nhưng với thế giới, nó đã được áp dụng từ lâu và đã chứng tỏ nhiều yếu tố nổi trội hơn so với các phương thức thi hành án khác.
Việc tiêm thuốc độc bắt đầu phổ biến trong thế kỷ 20, như một dạng thi hành án thay thế cho các biện pháp khác, được đánh giá là kinh khủng và đau đớn hơn hơn như ghế điện, treo cổ, xử bắn, hơi ngạt, chặt đầu.
Phổ biến từ thế kỷ XX
Phương thức xử tử bằng thuốc độc đã được hình thành từ thế kỷ XIX. Tác giả của ý tưởng tiêm thuốc độc để đoạt mạng tử tù là Julius Mount Bleyer, một bác sĩ ở New York, Mỹ. Ông đề xuất việc tiêm thuốc độc vào ngày 17/1/1888 và quảng bá rằng đây là phương pháp thi hành án rẻ hơn so với treo cổ.
Tuy nhiên ý kiến của Bleyer vấp phải sự phản đối dữ dội và đã không được sử dụng.
Bước sang thế kỷ 19, trong giai đoạn 1945 - 1953, Ủy ban Thi hành án Tử hình của Hoàng gia Anh cũng đã cân nhắc việc thi hành án tử hình bằng tiêm thuốc. Tuy nhiên họ đã không sử dụng biện pháp này do vấp phải sự phản đối từ Hiệp hội Y học Anh quốc.
Ngày 11/5/1977, chuyên gia y tế bang Oklahoma là Jay Chapman đã đề xuất một phương thức tử hình mới ít đau đớn hơn, được gọi là Quy trình Chapman. Quy trình này diễn ra như sau: “Một đường truyền nước muối vào tĩnh mạch sẽ được gắn vào tay của tử tù, thông qua đó người ta sẽ tiêm vào một liều thuốc độc, gồm thuốc gây mê trong thời gian siêu ngắn, kết hợp với một hóa chất gây liệt hoạt động của cơ thể”.
Biện pháp trên được cơ quan lập pháp bang Oklahoma thông qua và nhanh chóng trở nên phổ biến bởi đặc điểm loại bỏ sự đau đớn của tử tù khi phải ra pháp trường.
Kể từ đó, cho tới năm 2004, 37 trong số 38 bang còn giữ án tử hình của Mỹ đã sử dụng phương thức thi hành án tử hình bằng thuốc độc. Sau Mỹ, Trung Quốc bắt đầu sử dụng phương thức này từ năm 1997, Guatemala từ năm 1998, Philippines từ năm 1999, Thái Lan vào năm 2003 và hòn đảo Đài Loan (Trung Quốc) từ năm 2005.
Việt Nam sẽ bắt đầu sử dụng biện pháp này từ năm 2011.
Kết thúc sự sống sau 7 phút
Tiêm thuốc độc giờ là dạng xử tử phổ biến ở Mỹ. Mọi cuộc xử tử tại nước này trong năm 2005 đều thực hiện bằng phương pháp tiêm thuốc độc và theo một quy trình lặp lại giống nhau. Tử tù thường được cột chặt vào một chiếc cáng chuyên dụng có dây chằng buộc, mỗi tay được gắn một ống truyền tĩnh mạch. Chỉ một trong số đó là đủ để thực hiện việc thi hành án. Ống còn lại làm nhiệm vụ dự phòng trong trường hợp ống kia bất ngờ bị hỏng. Ống truyền sẽ được nối với một phòng truyền thuốc nằm cách đó một bức tường.

Ống tiêm chứa thuốc độc và dây truyền tĩnh mạch
phục vụ việc thi hành án tử hình ở bang Missouri, My
Cánh tay của tử tù được khử trùng bằng cồn trước khi kim truyền tĩnh mạch được đâm vào tay họ. Kim tiêm và các thiết bị cũng được khử trùng hoàn toàn. Có vài lý do người ta phải khử trùng những việc này, dù rằng chúng được sử dụng để mang tới cái chết cho tử tù.
Trước hết, việc sử dụng đồ khử trùng là yêu cầu và quy trình bắt buộc liên quan tới hoạt động y tế. Thứ hai, có những khả năng tù nhân sẽ không bị tiêm liều thuốc kết liễu mạng sống của họ sau khi rơi vào hôn mê nên cần phải giữ cho họ không bị nhiễm trùng. Trường hợp này đã xảy ra vào tháng 10/1983, khi việc thi hành án tử hình James Autry bị hoãn lại sau lúc nhân vật này đã bị tiêm thuốc gây mê. Cuối cùng, việc khử trùng nhằm bảo vệ sức khỏe của các đao phủ.
Sau khi các ống truyền được kết nối hoàn chỉnh, tử tù sẽ được truyền nước muối ở cả hai tay. Một máy đo đếm nhịp tim được gắn lên ngực họ. Tiếp đó, ba liều thuốc khác nhau sẽ được tiêm vào cơ thể tử tù, với ba lần khác nhau. Vai trò của các loại thuốc này là khiến tử tù rơi vào tình trạng bất tỉnh, trước khi bị liệt hô hấp và trụy tim, dẫn tới cái chết không tránh khỏi. Cái chết của tử tù sẽ được xác nhận sau khi hoạt động tim mạch hoàn toàn ngừng. Thông thường tử tù sẽ chết trong vòng 7 phút sau khi bị tiêm thuốc, dù cả quá trình xử tử có thể kéo dài tới 2 tiếng, như trong vụ xử tử Christopher Newton vào tháng 5/2007. Việc tiêm thuốc thường do các đao phủ con người thực hiện. Nhưng ở 4 bang của Mỹ là Delaware, Illinois, Missouri, New Jersey, việc tiêm thuốc do các cỗ máy điều khiển.
Thực thi công lý và đảm bảo tính nhân đạo
Quá trình tiêm thuốc độc kể trên có sử dụng nhiều loại thuốc khác nhau. Ở Mỹ, người ta chủ yếu sử dụng các chất sodium thiopental, pancuronium và potassium chloride. Đầu tiên là chất sodium thiopental, với khả năng gây mê cực mạnh. Một liều sodium thiopental thông thường có thể khiến người trưởng thành mê man trong vòng 30 - 45 giây. Tử tù sẽ nhận một liều 5 gram, mạnh hơn liều thông thường 14 lần.
Tiếp đó, tử tù sẽ bị tiêm pancuronium bromide, liều lượng 100 mg. Thuốc này ngăn chặn hoạt động của trung ương thần kinh điều khiển cơ và qua đó gây liệt hô hấp. Các thuốc thay thế cho nó là tubocurarine chloride và succinylcholine chloride. Cuối cùng, người ta sẽ tiêm thuốc potassium chloride, với liều lượng tương đương 10 - 20mg một giờ. Thuốc này có khả năng khiến tim ngừng đập, dẫn tới cái chết chắc chắn cho tử tù.
Trước những cáo buộc cho rằng việc xử tử bằng tiêm thuốc độc với nhiều loại thuốc có thể gây nên các phản ứng đau đớn mà khoa học chưa biết được, người ta đang nghiên cứu việc sử dụng một loại thuốc duy nhất cho việc tiêm thuốc độc. Các loại thuốc được đề xuất bao gồm barbiturate liều lớn và fentanyl. Cả hai loại thuốc này đều đảm bảo việc tử tù sẽ chìm vào giấc ngủ một cách thoải mái, trước khi gây ức chế hệ hô hấp và qua đó gây nên cái chết không đau đớn.
Việc tiêm thuốc độc bắt đầu phổ biến trong thế kỷ 20, như một dạng thi hành án thay thế cho các biện pháp khác, được đánh giá là kinh khủng và đau đớn hơn hơn như ghế điện, treo cổ, xử bắn, hơi ngạt, chặt đầu.
Phổ biến từ thế kỷ XX
Phương thức xử tử bằng thuốc độc đã được hình thành từ thế kỷ XIX. Tác giả của ý tưởng tiêm thuốc độc để đoạt mạng tử tù là Julius Mount Bleyer, một bác sĩ ở New York, Mỹ. Ông đề xuất việc tiêm thuốc độc vào ngày 17/1/1888 và quảng bá rằng đây là phương pháp thi hành án rẻ hơn so với treo cổ.
Tuy nhiên ý kiến của Bleyer vấp phải sự phản đối dữ dội và đã không được sử dụng.

Phòng thi hành án tử hình bằng tiêm thuốc độc tại tiểu bang Virginia
Ngày 11/5/1977, chuyên gia y tế bang Oklahoma là Jay Chapman đã đề xuất một phương thức tử hình mới ít đau đớn hơn, được gọi là Quy trình Chapman. Quy trình này diễn ra như sau: “Một đường truyền nước muối vào tĩnh mạch sẽ được gắn vào tay của tử tù, thông qua đó người ta sẽ tiêm vào một liều thuốc độc, gồm thuốc gây mê trong thời gian siêu ngắn, kết hợp với một hóa chất gây liệt hoạt động của cơ thể”.
Biện pháp trên được cơ quan lập pháp bang Oklahoma thông qua và nhanh chóng trở nên phổ biến bởi đặc điểm loại bỏ sự đau đớn của tử tù khi phải ra pháp trường.
Kể từ đó, cho tới năm 2004, 37 trong số 38 bang còn giữ án tử hình của Mỹ đã sử dụng phương thức thi hành án tử hình bằng thuốc độc. Sau Mỹ, Trung Quốc bắt đầu sử dụng phương thức này từ năm 1997, Guatemala từ năm 1998, Philippines từ năm 1999, Thái Lan vào năm 2003 và hòn đảo Đài Loan (Trung Quốc) từ năm 2005.
Việt Nam sẽ bắt đầu sử dụng biện pháp này từ năm 2011.
Kết thúc sự sống sau 7 phút
Tiêm thuốc độc giờ là dạng xử tử phổ biến ở Mỹ. Mọi cuộc xử tử tại nước này trong năm 2005 đều thực hiện bằng phương pháp tiêm thuốc độc và theo một quy trình lặp lại giống nhau. Tử tù thường được cột chặt vào một chiếc cáng chuyên dụng có dây chằng buộc, mỗi tay được gắn một ống truyền tĩnh mạch. Chỉ một trong số đó là đủ để thực hiện việc thi hành án. Ống còn lại làm nhiệm vụ dự phòng trong trường hợp ống kia bất ngờ bị hỏng. Ống truyền sẽ được nối với một phòng truyền thuốc nằm cách đó một bức tường.

Ống tiêm chứa thuốc độc và dây truyền tĩnh mạch
phục vụ việc thi hành án tử hình ở bang Missouri, My
Trước hết, việc sử dụng đồ khử trùng là yêu cầu và quy trình bắt buộc liên quan tới hoạt động y tế. Thứ hai, có những khả năng tù nhân sẽ không bị tiêm liều thuốc kết liễu mạng sống của họ sau khi rơi vào hôn mê nên cần phải giữ cho họ không bị nhiễm trùng. Trường hợp này đã xảy ra vào tháng 10/1983, khi việc thi hành án tử hình James Autry bị hoãn lại sau lúc nhân vật này đã bị tiêm thuốc gây mê. Cuối cùng, việc khử trùng nhằm bảo vệ sức khỏe của các đao phủ.
Sau khi các ống truyền được kết nối hoàn chỉnh, tử tù sẽ được truyền nước muối ở cả hai tay. Một máy đo đếm nhịp tim được gắn lên ngực họ. Tiếp đó, ba liều thuốc khác nhau sẽ được tiêm vào cơ thể tử tù, với ba lần khác nhau. Vai trò của các loại thuốc này là khiến tử tù rơi vào tình trạng bất tỉnh, trước khi bị liệt hô hấp và trụy tim, dẫn tới cái chết không tránh khỏi. Cái chết của tử tù sẽ được xác nhận sau khi hoạt động tim mạch hoàn toàn ngừng. Thông thường tử tù sẽ chết trong vòng 7 phút sau khi bị tiêm thuốc, dù cả quá trình xử tử có thể kéo dài tới 2 tiếng, như trong vụ xử tử Christopher Newton vào tháng 5/2007. Việc tiêm thuốc thường do các đao phủ con người thực hiện. Nhưng ở 4 bang của Mỹ là Delaware, Illinois, Missouri, New Jersey, việc tiêm thuốc do các cỗ máy điều khiển.
Thực thi công lý và đảm bảo tính nhân đạo
Quá trình tiêm thuốc độc kể trên có sử dụng nhiều loại thuốc khác nhau. Ở Mỹ, người ta chủ yếu sử dụng các chất sodium thiopental, pancuronium và potassium chloride. Đầu tiên là chất sodium thiopental, với khả năng gây mê cực mạnh. Một liều sodium thiopental thông thường có thể khiến người trưởng thành mê man trong vòng 30 - 45 giây. Tử tù sẽ nhận một liều 5 gram, mạnh hơn liều thông thường 14 lần.
Tiếp đó, tử tù sẽ bị tiêm pancuronium bromide, liều lượng 100 mg. Thuốc này ngăn chặn hoạt động của trung ương thần kinh điều khiển cơ và qua đó gây liệt hô hấp. Các thuốc thay thế cho nó là tubocurarine chloride và succinylcholine chloride. Cuối cùng, người ta sẽ tiêm thuốc potassium chloride, với liều lượng tương đương 10 - 20mg một giờ. Thuốc này có khả năng khiến tim ngừng đập, dẫn tới cái chết chắc chắn cho tử tù.
Trước những cáo buộc cho rằng việc xử tử bằng tiêm thuốc độc với nhiều loại thuốc có thể gây nên các phản ứng đau đớn mà khoa học chưa biết được, người ta đang nghiên cứu việc sử dụng một loại thuốc duy nhất cho việc tiêm thuốc độc. Các loại thuốc được đề xuất bao gồm barbiturate liều lớn và fentanyl. Cả hai loại thuốc này đều đảm bảo việc tử tù sẽ chìm vào giấc ngủ một cách thoải mái, trước khi gây ức chế hệ hô hấp và qua đó gây nên cái chết không đau đớn.
Tường Linh