Trong nước

Bí mật về cuộc "vùng vẫy" của Nhật Bản trước khi đầu hàng phe đồng minh (Kỳ 1)

18/11/2008 22:34 GMT+7 Google News
Ngày 15/8/1945, quân phiệt Nhật Bản tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, tới ngày 2/9/1945 thì ký vào văn kiện đầu hàng, chính thức chấm dứt Chiến tranh Thế giới lần thứ II. Nhưng việc đó chỉ được tiến hành sau hàng loạt nỗ lực chống đỡ không thành của Tokyo.
 
Kỳ 1: Cầu hòa Liên Xô
 
Yakov Malik, Đại sứ Liên Xô tại Nhật Bản, giai đoạn 1942-1945.
Đầu tháng 1/1945, quân Mỹ bắt đầu chiến dịch đổ bộ quy mô lớn lên đảo Luzon của Philíppin. Kế hoạch quyết chiến tại chiến trường Philíppin của quân đội Nhật gặp phải không ít khó khăn to lớn và cuối cùng trở thành một mớ giấy lộn. Giới chức Nhật Bản lúc bấy giờ vô cùng lo lắng trước những diễn biến bất lợi trên chiến trường.
 
Trong tháng 2/1945, Nhật hoàng Hirohito đã nhiều lần triệu kiến các trọng thần từng đảm nhiệm chức vụ thủ tướng nội các để nghe ý kiến đánh giá của họ về thời cuộc. Ngoài Hideki Tojo (giữ chức thủ tướng Nhật Bản từ ngày 18/10/1941 đến 22/7/1944, sau này bị tòa án quân sự quốc tế vùng Viễn Đông kết án tử hình vì những tội ác chiến tranh), quyết tâm "bản thổ quyết chiến" cực lực cổ súy cho việc "chiến đấu đến người Nhật cuối cùng", các vị trọng thần còn lại không ít thì nhiều đều tỏ thái độ bi quan.

Ngày 9/3/1945, trời vừa chập tối, 334 chiếc máy bay ném bom hạng nặng B-29 thuộc Không đoàn số 20, quân đội Mỹ, lần lượt cất cánh từ các căn cứ không quân trên đảo Guam, Saipan và Tinian, mà Mỹ mới chiếm lại từ năm 1944 trong cuộc phản công toàn diện. Từ độ cao 1.500 - 3.000 m, những chiếc siêu pháo đài bay của Mỹ trong Chiến tranh Thế giới lần thứ II này trút khoảng 2.000 tấn bom cháy xuống 25 khu vực ở thủ đô Tôkiô của Nhật Bản. Chưa đầy 24 tiếng đồng hồ sau, Nhật Bản lại phải hứng chịu đòn tấn công thứ hai. Vẫn là Không đoàn số 20, vẫn sử dụng bom cháy, nhưng lần này 313 chiếc B-29 chuyển mục tiêu tấn công sang Nagoya, thành phố lớn thứ 3 của Nhật Bản. Không dừng lại, máy bay Mỹ tiếp tục oanh tạc Osaka và Kobe. Kết quả, không đến một tuần, 116 km2 các khu công nghiệp trọng điểm của Nhật Bản đã bị biến thành tro bụi.
 

B-29, siêu pháo đài bay của không quân Mỹ trong Chiến tranh Thế giới lần thứ 2, đã trút hàng ngàn tấn bom xuống Nhật Bản.

Ngày 5/5/1945, nội các của Thủ tướng Kunuaki Koiso đệ đơn từ chức tập thể. Hôm sau, Chính phủ Liên Xô thông báo cho Đại sứ Nhật Bản tại nước này, Naotake Sato, rằng Mátxcơva không có ý định kéo dài Hiệp ước trung lập Xô- Nhật, vốn sẽ hết hiệu lực vào ngày 6/4/1946. Đứng trước những thách thức nghiêm trọng, tân nội các của Thủ tướng Kantaro Suzuki tích cực triển khai vận động hành lang nhằm giảng hòa với Liên Xô. Sở dĩ Nhật Bản vẫn chọn Liên Xô làm trung gian vì các nước khác đều yếu, nếu có đứng ra điều đình thì cũng bị Mỹ, Anh áp chế, rốt cuộc Nhật Bản vẫn phải đầu hàng vô điều kiện. Đêm 25/5/1945, khi Liên Xô và Nhật Bản đang đàm phán bí mật, 502 chiếc B-29 đã trút xuống trung tâm Tôkiô 3.262 tấn bom cháy, tàn phá hơn một nửa thành phố và biến thủ đô của Nhật Bản thành một bó đuốc khổng lồ.
 
Tổn thất nối tiếp tổn thất đã buộc những quan chức Nhật Bản ủng hộ chủ trương cầu hoà Liên Xô đẩy nhanh tiến độ. Nhằm mở đường cho việc đàm phán với Liên Xô, Ngoại trưởng Nhật Bản, Shigenori Togo, quyết định trước tiên phải tiến hành những cuộc gặp gỡ không chính thức để tìm hiểu thái độ của Cremli. Cựu Thủ tướng Koki Hirota được nhắm tới cho việc thực hiện sứ mệnh này. Tình hình chiến sự ngày càng ác liệt. Các quan chức ngoại giao nước ngoài tại Tôkiô hoặc là về nước, hoặc đi sơ tán ra nơi khác. Do đó, mãi đến ngày 3/6/1945, Hirota mới gặp được Đại sứ Liên Xô tại Nhật Bản, Yakov Malik, ở khu nghỉ mát Hakone. Trong cuộc hội đàm maratông kéo dài 2 ngày diễn ra ngay sau đó, Hirota nhiều lần tỏ ý hi vọng Liên Xô sẽ kí kết hiệp định hữu hảo với Nhật Bản. Ngày 24/6/1945, Hirota lại đến gặp Malik, đưa ra đề nghị trao đổi hàng hóa. Theo đó, phía Nhật Bản sẽ cung cấp cao su, thiếc, chì và vônphram cho Liên Xô. Đổi lại, Liên Xô sẽ xuất khẩu dầu mỏ cho Nhật Bản. Hirota cũng biểu thị mong muốn liên kết lực lượng hải quân và lục quân giữa hai nước để xây dựng đội quân hùng mạnh nhất thế giới. Malik yêu cầu phía Nhật Bản phải đưa ra kế hoạch cụ thể thì mới báo cáo về nước.
 
Chưa đầy một tuần sau, Hirota vội vàng mang bản đề án do Ngoại trưởng Togo khởi thảo tới gặp Malik. Nhằm đổi lấy chữ ký của Mátxcơva vào bản hiệp ước tương trợ và không xâm phạm lẫn nhau, Tôkiô chấp nhận từ bỏ quyền đánh cá và chủ quyền đối với vùng nước tranh chấp với Liên Xô. Nhật Bản cũng chấp nhận nền độc lập của Mãn Châu quốc (một quốc gia bù nhìn ở Mãn Châu và phía đông Nội Mông, do các quan chức nhà Thanh cũ tạo ra với sự giúp đỡ của Đế chế Nhật Bản vào năm 1932. Quốc gia này do Nhật thành lập và điều hành, cùng với Phổ Nghi, hoàng đế cuối cùng của nhà Thanh, nhiếp chính và là hoàng đế trên danh nghĩa. Năm 1945, chính quyền Mãn Châu quốc bị hủy bỏ sau sự thất bại của quân phiệt Nhật)... Đợi mãi không thấy phía Liên Xô trả lời, Đại sứ Nhật Bản tại Mátxcơva, Sato, xin gặp Ngoại trưởng Liên Xô, Molotov, nhưng không được. Nhật hoàng Hirohito như ngồi trên đống lửa, triệu kiến khẩn cấp Thủ tướng Suziki, trực tiếp đốc thúc việc đàm phán với Liên Xô, thậm chí còn cho biết nếu cần sẽ cử đặc sứ mang thư riêng tới Mátxcơva.
 
Đúng lúc này, Nhật Bản được tin ba nước Mỹ, Anh và Liên Xô đang tiến hành hội đàm thượng đỉnh ở Potsdam (Đức), hiệp thương việc kết thúc chiến tranh với Nhật Bản và lập lại trật tự thế giới sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II. Nhằm đi trước một bước, đêm 12/7/1945, Ngoại trưởng Togo đã điện khẩn cho Đại sứ Sato, yêu cầu ông này làm việc với Bộ Ngoại giao Liên Xô sắp xếp cho chuyến thăm Liên Xô của Đặc sứ Fuminaro Konoe và truyền đạt ý định của Nhật hoàng liên quan tới việc kết thúc chiến tranh. Nhận được bức điện khẩn trên, Sato lập tức xin được gặp Ngoại trưởng Liên Xô Molotov. Với lý do vội chuẩn bị cho chuyến đi Potsdam, Molotov từ chối sự thỉnh cầu của Sato. Hi vọng của Nhật Bản nhờ Liên Xô môi giới điều đình đã tiêu tan.
 
Theo Tin Tức

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm